Tài Nguyên Môi Trường
Lao động - Việc làm
Văn bản
Lịch công tác
Đăng nhập E-mail
Tìm kiếm
| Quy hoạch chi tiết |
| Thứ ba, 06 Tháng 4 2010 14:27 |
|
Khu Kinh tế Dung Quất được quy hoạch các phân khu chức năng chính như sau: KHU CÔNG NGHIỆP PHÍA ĐÔNG
1. Tổng diện tích: 5.054 ha. 2. Chức năng chính: là KCN nặng tập trung các lĩnh vực: lọc - hoá dầu, hoá chất, đóng tàu, luyện - cán thép, sản xuất xi măng, chế tạo thiết bị nặng, lắp ráp ô tô... Được phân bổ thành 4 cụm công nghiệp:
KHU CÔNG NGHIỆP PHÍA TÂY 1. Tổng diện tích: 2.100 ha 2. Chức năng chính: là KCN nhẹ tập trung các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa; chế biến nông hải sản, hàng dệt may, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; công nghiệp điện, điện tử; kho bãi trung chuyển quy mô vừa và nhỏ... - Đất đô thị Dốc Sỏi; Đất đô thị Dốc Sỏi Khe Hai.
CẢNG DUNG QUẤT 1. Các thông số: 1.158 ha, gồm 458 ha mặt nước hữu ích, 421 ha mặt bằng và kho bãi (thuộc địa phận KCN phía Đông); sâu -19 m. Được thiết kế có đê chắn sóng (kết cấu thân đê: dài 1.600m, cao 27m, rộng 15m), kè chắn cát ở phía Tây dài 1.750 m. 2. Chức năng: Là cảng nước sâu đa chức năng lớn nhất Việt Nam, gồm khu cảng dầu khí, khu cảng chuyên dụng, khu cảng tổng hợp (gồm hàng container, hàng rời...). Có thể tiếp nhận tàu xuất sản phẩm dầu đến 50.000 DWT, tàu hàng 30.000-50.000 DWT. 3. Quy mô và quy hoạch mặt bằng: a. Khu cảng Dầu khí (phục vụ hoạt động của NMLD Dung Quất) 2 bến cho tàu xuất xăng và diesel, có trọng tải 20.000-25.000 DWT (giai đoạn I) và đến 50.000 DWT 2 bến dự phòng (giai đoạn II ). 4 bến cho tàu xuất xăng, diesel, nhiên liệu phản lực, khí hóa lỏng và dầu F.O có trọng tải 3.000-5.000 DWT (giai đoạn I) và đến 30.000 DWT (giai đoạn II). Bến số 1 cho tàu 10.000 DWT (hiện tại đã có thể tiếp nhận tàu 15.000 DWT), phục vụ cho việc xây dựng NMLD Dung Quất và phục vụ cho công tác bảo dưỡng các công trình biển. b. Khu cảng tổng hợp được chia thành 2 phân khu cảng Phân khu cảng tổng hợp I: nằm ngay sau khu cảng dầu khí, có 1.000 m đường bờ, chia thành 4 lô cho các tàu trọng tải 10.000-50.000 DWT. Trong giai đoạn đến năm 2005, xây dựng một bến tổng hợp cho tàu có trọng tải đến 20.000 DWT. Phân khu cảng tổng hợp II: nằm ở phía Nam vịnh Dung Quất, sẽ được phát triển sau năm 2010. Khu cảng Container (trung chuyển Quốc tế) đã đi vào hoạt động. c. Khu Cảng chuyên dụng Nằm liền kề Phân khu cảng tổng hợp II, trước mắt dành cho việc phát triển Khu liên hợp công nghiệp tàu thuỷ, NM Xi măng và NM Cán thép. Trong giai đoạn trước 2005 sẽ xây dựng kè chắn cát và một cảng chuyên dùng với trên 300m đường bờ để nhập vật tư nguyên liệu cho các nhà máy công nghiệp nặng. Là khu vực rộng khoảng 300 ha tại KCN phía Đông gắn với Cảng; 200 ha tại KCN phía Tây gắn với sân bay Chu Lai, nằm trong Khu Dung Quất và có cảng xuất, nhập hàng hoá riêng. Trong Khu bảo thuế có:
Nội dung Khu Bảo thuế: Quan hệ giữa khu Bảo thuế với bên ngoài là quan hệ xuất nhập khẩu. Hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu khi nhập vào khu Bảo thuế chưa phải đóng thuế Lợi ích khu Bảo thuế:
Những hàng hoá nhập khẩu số lượng lớn một lần và phải chịu mức thuế suất cao như xăng dầu, Clinker, phôi thép, phân bón và vật tư nông nghiệp...
ĐÔ THỊ VẠN TƯỜNG
Các thông số chủ yếu: Tổng diện tích đô thị 3.828ha, bao gồm 6 khu chức năng: Khu nhà ở : 1.594 ha, gồm 5 khu ở. Khu du lịch sinh thái : 450 ha. Khu Lâm Viên : 480 ha. Khu Công nghệ cao : 389 ha. Khu Phát triển tương lai : 94 ha. Vùng bảo tồn cây xanh : 820 ha. Qui mô dân số: Qui mô dân số dự báo phát triển theo các giai đoạn: Đến 2020 : 120.000 dân. Đến 2030 : 170.000 dân Ngoài quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000; đã quy hoạch chi tiết 1/500 gắn với thiết kế đô thị khu nhà ở số 2 và số 3 với tổng diện tích 714ha; gồm các khu chức năng: Thương mại dịch vụ, khu đào tạo, khu nhà ở, cây xanh. Đồ án quy hoạch được thể hiện theo phương châm: hài hoà với tự nhiên và cảnh quan, xây dựng thành phố nhiều cây xanh, một đô thị thân thiện với môi trường, một thành phố có thể đáp ứng với biến đổi kết cấu của xã hội. Đồ án quy hoạch đề ra những qui phạm, qui định bắt buột phải áp dụng (những nguyên tắc bố trí các kiểu nhà ở, kết nối hệ thống giao thông, bố trí các công trình công cộng, thương mại, mạng lưới cây xanh, bãi đỗ xe...) tạo nên một thành phố đồng bộ, đa dạng về màu sắc và bền vững với thời gian. Tính chất của đô thị mới: Là đô thị công nghiệp, là trung tâm phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, Vừa là hệ quả, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của KKT Dung Quất; Là đô thị biển, kết hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc và không gian biển, không gian đồi núi; Yêu cầu đặt ra của điều chỉnh quy hoạch: Công ty Nikken Sekkei của Nhật Bản là nhà thiết kế và quy hoạch chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và năng lực quy hoạch các đô thị hiện đại tại Nhật Bản và nhiều quốc gia khác. Để bảo đảm yêu cầu không lạc hậu thậm chí hàng trăm năm mà nhiều đô thị châu Âu đã đạt được, các tiêu chuẩn về hạ tầng (giao thông, thoát nước, cấp điện, cấp nước…), các công trình công cộng, sự hài hoà về kiến trúc, màu sắc với cảnh quan được coi trọng, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của người dân đô thị trong vài chục năm, mà còn tranh được tình trạng đào bới, đập phá, giải tỏa xuất phát từ yêu cầu mở rộng, nâng cấp đô thị đáp ứng nhu cầu phát triển của đô thị qua thời gian. So với quy hoạch cũ, đồ án quy hoạch điều chỉnh có những tiến bộ sau đây: Về giao thông: Các trục giao thông chính phụ rõ ràng; các nút giao thông không bố trí tại các khu vực trũng hoặc vùng lõm; cao độ và độ dốc vừa tôn trọng địa hình, vừa đảm bảo an toàn khi lưu thông. Hệ thống giao thông trong từng phân khu, từng đơn vị được bố trí hợp lý hơn. Ở những tuyến trục chính, các khu nhà ở hầu hết được bố trí lối ra ở các tuyến đường gom hoặc đường nhánh để tránh ảnh hưởng đến tốc độ lưu thông trên trục đường chính cũng như bảo đảm an toàn giao thông. Các qui chuẩn về đường cong, độ nghiêng không chỉ dành riêng cho ô tô mà còn xem xét đến các đối tượng là xe đạp, người đi bộ và cả người khuyến tật. Các bãi đỗ xe được bố trí ở những vị trí hợp lý Về Phân khu chức năng: Các khu chức năng được phân định rõ ràng, vừa đáp ứng được yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng khả năng phát triển và mở rộng trong tương lai. Đồ án đã đưa ra nhiều kiểu nhà kiến trúc điển hình cho từng Đơn vị, từng Cụm kiến trúc, đáp ứng yêu cầu vừa đa dạng phong phú, xét về tổng thể đô thị, vừa thống nhất xét từng Đơn vị, vừa phù hợp với tính chất, mục đích sử dụng và loại hình dân cư cho từng giai đoạn phát triển. Không gian kiến trúc: Các qui định về tầng cao ở khu vực gần biển đã cố gắng hướng tầm nhìn về phía biển, đón gió mát từ biển, tránh gió mùa đông bắc. Về cơ bản, quy hoạch tôn trọng địa hình tự nhiên; không gian kiến trúc không bị lặp lại, tạo cảm giác nhàm chán; giữa không gian kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên bảo đảm sự tương đồng, hài hoà. Các khoảng lùi, khoảng lưu không được chú ý, bảo đảm tầm nhìn không bị hạn chế khi đi lại trên đường phố. Màu sắc kiến trúc và cây xanh: Đồ án lấy màu nước biển và cây xanh làm chủ đạo cho màu sắc các công trình khi kiến trúc. Về cây xanh, tận dụng và phát huy đất cây xanh sẵn có, đặc biệt là ở các đồi núi, các khu vực khó phát triển kiến trúc, vừa xây dựng thêm các khu đất cây xanh bao quanh các khu nhà ở và khu Resort và tạo tính liên kết giữa các khu vực, các mảng cây xanh trong toàn đô thị. Hệ thống thoát nước cơ bản dựa vào địa hình tự nhiên và các dòng chảy đã có. Kèm theo Đồ án quy hoạch là Qui chế quản lý đô thị với những qui định thực sự cụ thể, chi tiết, gắn với việc huấn luyện một đội ngũ cán bộ quản lý đô thị thực sự chuyên nghiệp. Công tác quản lý quy hoạch: Tuân thủ theo các qui tắc, qui định bắt buộc. Yêu cầu các nhà đầu tư, các hộ gia đình tham gia quản lý, thực hiện quy hoạch một cách nghiêm túc, có trách nhiệm cao trong quá trình xây dựng thành phố, coi đây là trách nhiệm và quyền lợi của mình để thành phố xanh, sạch, đẹp và bền vững với thời gian. Quy hoạch phải ứng phó, xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển và các nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Tổ chức bộ máy quản lý đô thị có trình độ chuyên môn cao, có khả năng quản lý tỉ mỉ; mỗi khu ở đều có tiểu ban quản lý, vận hành tuân thủ theo yêu cầu quản lý của đồ án quy hoạch. Ban quản lý đô thị phải có đại diện của người dân tham gia. Yêu cầu đặt ra ở đây là phải xây dựng một hệ thống chính quyền của Nhà nước phù hợp, có đủ thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về quản lý và phát triển đô thị. Triển khai quản lý quy hoạch: Thực hiện việc công bố, phổ biến rộng rãi đồ án quy hoạch đến từng người dân, công chức nhà nước, các nhà đầu tư trong và ngoài nước để mọi người nắm vững, tham gia và tuân thủ các yêu cầu đặt ra của đồ án quy hoạch. Kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia xây dựng thành phố Vạn Tường theo lộ trình phát triển của từng giai đoạn; huy động nhiều nguồn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu của một đô thị văn minh, hiện đại. |
Xem PDF |
In trang |
Gửi tới bạn |



















