Chủ nhật, 19.05.2013
  • TRANG CHỦ
  • TIN TỨC - SỰ KIỆN
    • Tin nổi bật
    • Tin từ Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất
    • Sự kiện
    • Tin từ doanh nghiệp
    • Các tin tức khác
  • HỎI ĐÁP
  • SƠ ĐỒ WEBSITE
English  English
Home TIN TỨC - SỰ KIỆN Các tin tức khác

Giới thiệu

Tổng quan
Vị Trí địa lý Hạ tầng kỹ thuật Tiện ích xã hội
Tổ chức bộ máy BQL
Quy hoạch
Quy hoạch chung Quy hoạch chi tiết Bản đồ quy hoạch
CHUYÊN MỤC ĐẦU TƯ
Dự án đầu tư
Danh mục dự án đầu tư Dự án gọi vốn đầu tư
Hướng dẫn hỗ trợ đầu tư
Hướng dẫn đầu tư Hỗ trợ đầu tư Ưu đãi đầu tư Một số form mẫu
Thông tin dịch vụ
Khách sạn - Nhà Hàng Ngân hàng Điểm tham quan du lịch Vận chuyển

Tài Nguyên Môi Trường

  • Bảng giá đất
  • Môi trường

Lao động - Việc làm

  • Nguồn nhân lực
  • Tuyển dụng lao động
  • Mẫu báo cáo

Văn bản

  • Trung ương (TW)
  • Tỉnh Quảng Ngãi
  • Văn bản ban quản lý

Lịch công tác

  • Lịch công tác

Đăng nhập E-mail



Tìm kiếm

Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đang online: 65
Visitors Counter
về đầu trang
Các tin tức khác
Thu ngân sách 4 tháng đầu năm 2013 đạt 8.605 tỷ đồng PDF. In Email
Thứ sáu, 03 Tháng 5 2013 13:52
Sở Tài chính cho biết, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn  tỉnh 4 tháng đầu năm 2013 đạt 8.605 tỷ đồng, bằng 39,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 7.600 tỷ đồng, thu hoạt động xuất nhập khẩu 875 tỷ đồng. Riêng tháng 4/2013, thu ngân sách đạt 2.820 tỷ đồng.

Tổng chi ngân sách địa phương 4 tháng ước đạt 2.440 tỷ đồng, bằng 33,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển là 540 tỷ đồng, chi thường xuyên 1.567 tỷ đồng.

V.T

 
Thông báo nghỉ lễ PDF. In Email
Thứ hai, 08 Tháng 4 2013 07:54
Ngày 05-4, UBND tỉnh có thông báo về việc nghỉ các ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương,  Chiến thắng 30/4 và Quốc tế lao động 1/5.

Theo đó, ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (ngày 10 tháng 3 năm 2013) cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính tị, tổ chức chính trị - xã hội được nghỉ 01 ngày, vào ngày 19/4/2013 (thứ Sáu).

Lễ Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5/2013: Thực hiện theo điểm 3 Thông báo số 326/TB-UBND ngày 20/12/2012 của UBND tỉnh về việc hoán đổi ngày nghỉ hàng tuần và treo cờ Tổ quốc vào các dịp lễ, tết năm 2013 (Công chức viên chức và người lao động được nghỉ 05 ngày liên tục, từ ngày 27/4/2013 đến hết ngày 01/5/2013; đi làm bù thứ Bày, ngày 04/5/2013).

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh thực hiện treo cờ Tổ quốc trong các ngày: lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5.

V.N (Cổng TTĐT Q.Ngãi)

 

 
Khôi phục ưu đãi thuế cho khu công nghiệp PDF. In Email
Thứ năm, 21 Tháng 3 2013 10:33
Cùng với việc đề xuất cho các dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu  đãi đầu tư, Bộ Tài chính cũng đã đưa  quy định về ưu đãi thuế với khu công nghiệp (KCN) vào Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sửa đổi.

“Được vậy thì quá tốt”. Đó là bình luận của ông Võ Văn Hải, Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, khi được biết thông tin tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 18/3, Bộ Tài chính đã trình Dự thảo Luật Thuế TNDN sửa đổi và một trong những nội dung được đông đảo nhà đầu tư trông chờ, đó là sẽ bổ sung quy định ưu đãi thuế TNDN đối với KCN.

Kể từ khi Luật Thuế TNDN 2008 có hiệu lực (1/1/2009), ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN, và cả doanh nghiệp đầu tư trong KCN đều bị  bãi bỏ. Từ đó tới nay, thu hút đầu tư vào KCN rất khó khăn.

“Có những thời điểm, chẳng nhà đầu tư nào vào cả”, ông Hải nói.

Thực tế này không chỉ diễn ra ở Nghệ An, mà ở khắp cả nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhiều lần khẳng định điều này và cũng đã nhiều lần đề nghị Bộ Tài chính, khi sửa đổi Luật Thuế TNDN thì nên khôi phục ưu đãi thuế TNDN cho KCN.

“Việc bỏ quy định ưu đãi thuế đối với KCN đã phát sinh bất cập, do hầu hết các KCN được phân bố ở vùng kinh tế trọng điểm (chiếm khoảng 80% trong tổng số KCN), không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, tuy có thuận lợi về vị trí, hạ tầng, nhưng chi phí đền bù, xây dựng hạ tầng cao, dẫn đến giá thuê lại đất trong KCN rất cao. Vì vậy, nếu không có chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với KCN, thì rất ít doanh nghiệp đầu tư vào đây”, lãnh đạo Bộ Tài  chính đã lý giải như vậy và cho biết, trong Dự thảo Luật Thuế TNDN mà Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này, có quy định rằng, doanh nghiệp thực hiện  dự án đầu tư mới tại KCN (trừ KCN thuộc các thành phố trực thuộc Trung ương) được miễn thuế TNDN trong 2 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

“Việc ưu đãi thuế cũng cần có chọn lọc, tránh dàn trải. Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương (bao gồm Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) đã được định hướng phát triển thành các trung tâm dịch vụ, tài chính, văn hoá của cả nước, thì không cần thiết khuyến khích phát triển các KCN”, bà Vũ Thị Mai, Thứ trưởng Bộ Tài chính nói.

Tuy nhiên, trái với đề xuất về việc cho dự án mở rộng đầu tư được hưởng ưu đãi thuế, đã nhận được sự ủng hộ rất lớn từ dư luận, thì dự thảo quy định về việc bổ sung ưu đãi đối với KCN lại có nhiều ý kiến trái chiều.

Quan điểm từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các cơ quan quản lý đầu tư, cũng như các nhà đầu tư là đồng tình. Nhưng đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách lại không tán thành đề xuất này.

Theo ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, chính sách ưu đãi thuế đối với KCN đã được áp dụng, nhưng trên thực tế đã dẫn đến tình trạng ưu đãi tràn lan. “Việc phần lớn doanh nghiệp đều lựa chọn đầu tư vào KCN tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi về hạ tầng, giao thông đã làm giảm hiệu quả chính sách thu hút đầu tư vào phát triển vùng miền khó khăn, đặc biệt khó khăn”, ông Hiển nói.

Luật Thuế TNDN được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, cần phải hiểu rộng như là Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Vì thế, cần giảm mức thuế suất thuế TNDN để đủ sức hấp dẫn thu hút đầu tư. Nhưng giảm thuế chỉ là một khía cạnh, những ưu đãi về thuế chính là một trong những công cụ tốt để Việt Nam có thể tăng cường thu hút FDI, nhất là trong bối cảnh dòng vốn này vào Việt Nam đang sụt giảm trong thời gian gần đây.

“Nhiều người nhầm lẫn khi cho rằng, những ưu đãi về thuế là không cần thiết để thu hút đầu tư. Nhưng thực tế, kết quả của việc thu hẹp các ưu đãi về thuế là việc mất đi một số dự án tốt”, ông Fred Burke, Hãng Luật Baker McKenzie, đã nhiều lần phát biểu như vậy.

Nguyên Đức (baodautu.vn)

 
Bổ sung quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ công chức PDF. In Email
Thứ sáu, 22 Tháng 2 2013 13:59

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 17/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị  định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ mà chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh thì được xét nâng một bậc lương trước thời hạn tối đa là 12 tháng so với thời gian quy định.

Tại quy định hiện đang được áp dụng tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức được nâng bậc lương trước thời hạn trong một năm không quá 5% tổng số cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế trả lương của cơ quan, đơn vị. Tỷ lệ này được tăng lên thành không quá 10% tại Nghị định mới.

Bổ sung đối tượng công chức

Nghị định mới cũng bổ sung đối tượng áp dụng trong Bảng 2 “Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Cụ thể, đối với công chức loại A3, Nhóm 1 (A3.1), bên cạnh 8 đối tượng gồm: Chuyên viên cao cấp; Thanh tra viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp thuế; Kiểm toán viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp ngân hàng; Kiểm tra viên cao cấp hải quan; Thẩm kế viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp thị trường; Nghị định mới bổ sung thêm 5 đối tượng là: Thống kê viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Chấp hành viên cao cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên cao cấp (thi hành án dân sự); Kiểm tra viên cao cấp thuế.

Nhóm 1, công chức loại A2 (A2.1) bổ sung thêm 6 đối tượng gồm: Thông kê viên chính; Kiểm soát viên chính chất lượng sản phẩm hàng hóa; Chấp hành viên trung cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên chính (thi hành án dân sự); Kiểm tra viên chính thuế; Kiểm lâm viên chính.

Công chức loại A1 được bổ sung thêm 8 đối tượng là: Thống kê viên; Kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Kỹ thuật viên bảo quản; Chấp hành viên sơ cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên (thi hành án dân sự); Thư ký thi hành án (dân sự); Kiểm tra viên thuế; Kiểm lâm viên.

7 đối tượng được bổ sung vào bảng công chức loại B gồm: Thống kê viên trung cấp; Kiểm soát viên trung cấp chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Thư ký trung cấp thi hành án (dân sự); Kiểm tra viên trung cấp thuế; Kiểm lâm viên trung cấp; Kỹ thuật viên bảo quản trung cấp; Thủ kho bảo quản.

Ngoài ra, Nhân viên bảo vệ kho dự trữ cũng được bổ sung vào ngạch công chức loại C.

Sửa “Ngạch viên chức” thành “Chức danh nghề nghiệp viên chức”

Quy định mới cũng sửa đổi tên gọi “Ngạch viên chức” bằng “Chức danh nghề nghiệp viên chức”.

Đồng thời, bổ sung đối tượng áp dụng trong Bảng 3 “Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Cụ thể, 3 chức danh nghề nghiệp viên chức được bổ sung vào Nhóm viên chức loại A3 (A3.1) là: Điều tra viên cao cấp tài nguyên môi trường; Dự báo viên cao cấp khí tượng thủy văn; Kiểm soát viên cao cấp khí tượng thủy văn.

Nhóm 1, viên chức loại A2 (A2.1) được bổ sung 14 chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm: Công tác xã hội viên chính; Trợ giúp viên pháp lý chính; Hộ sinh chính; Kỹ thuật viên chính y; Y tế công cộng chính; Điều dưỡng chính; Dân số viên chính; Kiểm định viên chính kỹ thuật an toàn lao động; Trắc địa bản đồ viên chính; Địa chính viên chính; Điều tra viên chính tài nguyên môi trường; Quan trắc viên chính tài nguyên môi trường; Dự báo viên chính khí tượng thủy văn; Kiểm soát viên chính khí tượng thủy văn.

Bên cạnh đó, viên chức loại A1 cũng được bổ sung thêm 17 chức danh nghề nghiệp viên chức, trong đó có giáo viên tiểu học cao cấp, giáo viên mầm non cao cấp, giáo viên trung học cơ sở chính… Viên chức loại Ao bổ sung 11 đối tượng, viên chức loại B bổ sung 12 đối tượng, viên chức nhóm 1, loại C (C1) được bổ sung 6 đối tượng.

Bổ sung bảng nâng lương đối với sỹ quan cấp tướng

Bên cạnh đó, Nghị định mới cũng bổ sung bảng nâng lương đối với sỹ quan cấp tướng thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân tại Bảng 6 “Bảng nâng lương cấp bậc quân hàm sỹ quan quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan công an nhân dân” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP như sau:

 

TT

Cấp bậc quân hàm

Hệ số nâng lương (1 lần)

1

Đại tướng

11,00

2

Thượng tướng

10,40

3

Trung tướng

9,80

4

Thiếu tướng

9,20

 

Thời hạn nâng lương của cấp bậc quân hàm Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng là 4 năm.

Quy định mới có hiệu lực từ ngày 10/4/2013.

Thanh Hoài (Chinhphu.vn)

 

 
FDI: Cuộc dịch chuyển vĩ đại PDF. In Email
Thứ tư, 20 Tháng 2 2013 10:37
Báo cáo nghiên cứu về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Ngân hàng HSBC mới đây với tiêu đề “Cuộc dịch chuyển vĩ đại” đưa ra những nhận định đáng chú ý về sự dịch chuyển lớn của FDI đã và đang tiếp tục hướng sang các nước ASEAN và Ấn Độ như thế nào.

Trung Quốc không còn lợi thế như trước

Theo báo cáo của HSBC, trong 20 năm qua, Trung Quốc là nước tiếp nhận nguồn vốn FDI lớn nhất trong số các nước đang phát triển. FDI đã giúp Trung Quốc thành một căn cứ công nghiệp lớn của thế giới. Trung Quốc có lợi thế lực lượng lao động nông thôn dư thừa (vào lúc đó chiếm khoảng 75% của tổng dân số) có thể được chuyển vào các nhà máy để nâng cao năng lực sản xuất; quốc gia này cũng cần cải thiện kỹ năng và công nghệ để có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Dòng vốn FDI đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy việc làm, kích thích năng lực sản xuất và hoạt động xuất khẩu; từ đó đóng vai trò quan trọng đưa Trung Quốc từ một quốc gia nông thôn nghèo tụt hậu tiến lên thành một cường quốc kinh tế.

Tuy nhiên, chi phí sản xuất kinh doanh ở Trung Quốc đang tăng cao do tiền lương nhân công tăng, đồng tiền nội tệ mạnh hơn và chuỗi giá trị cũng tăng; cùng với đó là tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến các công ty quốc tế, đa phần là các nhà sản xuất sử dụng nhiều lao động đang tìm cách chuyển hướng và mở rộng đầu tư của họ ở những quốc gia khác. Những quốc gia mạnh về nguồn lực lao động với chi phí thấp và có thị trường nội địa lớn, năng động sẽ là những điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn này.

Theo ghi nhận của HSBC, sản xuất hàng dệt may chảy vào Trung Quốc đã giảm 18,9% từ tháng 1-11/2012; trong khi đó, dòng vốn FDI cho ngành sản xuất vào Indonesia và Thái Lan tăng tương ứng 66% và 43%.

Gần đây, khá đông nhà đầu tư từ Nhật Bản đã chuyển tới các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam để đa dạng hóa rủi ro từ Trung Quốc. Và không chỉ Nhật Bản. Các công ty từ nhiều nước khác cũng góp phần vào trào lưu dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc khi họ đi tìm những cơ sở rẻ hơn. Ấn Độ là một điểm đến hàng đầu khi có lực lượng dân số cùng kích cỡ. Ấn Độ có khoảng 800 triệu người trong độ tuổi lao động (từ 15 tới 64), trong đó 560 triệu người ở nông thôn. Trung Quốc có khoảng 1 tỷ người trong tuổi lao động, trong đó 500 triệu ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, tới năm 2020, dân số nông thôn của Ấn Độ sẽ tăng tới 600 triệu trong khi con số này ở Trung Quốc giảm xuống 385 triệu (dự báo của Liên hiệp quốc). Điều này khiến Ấn Độ trở trên cạnh tranh hơn về lao động.

Những thay đổi ở Trung Quốc đã cho thấy một cơ hội lớn để thúc đẩy FDI. Trước khủng hoảng tài chính châu Á, dòng vốn vào ASEAN rất lớn, chiếm khoảng 8% tổng nguồn vốn lưu chuyển trên thế giới. Trong năm năm sau khủng hoảng, dòng vốn này giảm khoảng 2% trên tổng vốn lưu chuyển trên thế giới. Nhưng trong hai năm vừa rồi, các nhà đầu tư đã quay lại ASEAN bởi cả hai lý do: tiềm năng tăng trưởng và lợi thế chi phí rẻ. Kết quả là dòng vốn vào ASEAN đã ngang ngửa với phần vốn vào Trung Quốc, 7,6% so với 8,1%.

Báo cáo của HSBC cho rằng: Có ba yếu tố quan trọng khiến phần vốn FDI vào ASEAN có khả năng tăng lên trong thập kỷ tới; đó là chi phí vốn rẻ từ các chính sách nới lỏng tiền tệ ở các quốc gia trong khu vực này; Các đồng tiền mạnh tăng giá như đồng yên, Euro và nhân dân tệ; và thứ ba là kinh tế còn trì trệ ở những nước phát triển.

Tìm kiếm một ngôi nhà mới

Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia cũng cân nhắc những yếu tố khác ngoài yếu tố nói trên khi quyết định đầu tư, bao gồm môi trường chính sách và sự thuận lợi khi làm ăn kinh doanh.

Philippines và Việt Nam là hai nước có lực lượng lao động lớn và thị trường đủ lớn để duy trì nhu cầu nội địa mạnh mẽ. Trong bảy năm tới, dân số Philippines sẽ tăng lên 110 triệu người (dự báo của Liên hiệp quốc) từ con số 96 triệu năm 2012. Mặc dù Việt Nam có một dân số nhỏ hơn (89 triệu), nhưng nguồn cung lao động mạnh mẽ và rẻ ở khu vực nông thôn (khoảng 70% dân số sống ở nông thôn) cho thấy Việt Nam có lợi thế về sản xuất cần nhiều lao động.

Việt Nam có một mô hình đặt trọng tâm xuất khẩu tương tự với Trung Quốc. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất thông qua chính sách và các ưu đãi một cách mạnh mẽ hơn Philippines nhiều. Trong khi tiềm năng về kích cỡ thị trường nhỏ hơn, Việt Nam cũng sẽ gia nhập câu lạc bộ 100 triệu dân vào giữa các năm 2020. Nếu thu nhập tiếp tục tăng, Việt Nam sẽ trở thành một đích đến ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

Đánh giá chung: Ấn Độ và Philippines có nhiều tiềm năng rất lớn nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém và chính sách FDI hạn chế là những trở ngại chính cho những nước này. Indonesia và Việt Nam sẽ có khả năng hưởng lợi nhiều nhất xét về mặt lợi thế chi phí. Thái Lan với một môi trường kinh doanh tốt và một chuỗi cung cấp liên kết, là một điểm đến hấp dẫn nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều rủi ro về chính trị và chi phí tiền lương. Malaysia có môi trường kinh doanh mạnh và những chính sách hỗ trợ FDI nhưng thị trường tại Malaysia còn nhỏ và mức lương cao cũng khiến Malaysia kém cạnh tranh so với các nước khác.

Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

Nếu tính tỷ lệ so với GDP, Việt Nam là nước lớn đứng thứ hai về thu hút vốn FDI tại Đông Nam Á sau Singapore. Thành quả này có được là do Việt Nam có nguồn lao động giá rẻ nhất trong số các nước Đông Nam Á và môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn so với Ấn Độ, Philippines, Indonesia, mặc dù Việt Nam vẫn còn thua đáng kể so với Thái Lan và Malaysia.

Tỷ lệ đô thị hóa vẫn còn thấp ở mức 30% và sẽ tiếp tục tăng tốc trong vài năm tới. Điều này có nghĩa rằng sự gia tăng năng lực sản xuất từ những người nông dân di cư vào thành phố trong hai thập kỷ qua sẽ còn tiếp tục diễn ra. Cùng với điều này, hơn 60% dân số Việt Nam dưới 35 tuổi và còn gia tăng trong hai thập kỷ tới. Điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ có nhu cầu trong nước nhiều hơn và áp lực về chi phí tiền lương ít hơn các nước khác.

Trong vài năm qua, Việt Nam đã phần nào đánh mất hào quang là một trong những nước thực hiện tốt nhất FDI trong khu vực do lạm phát không ổn định và quản lý kém hiệu quả đối với nền kinh tế. Điều này đã làm dòng vốn FDI chậm lại nhưng Việt Nam vẫn là một đất nước phát triển mạnh mẽ so với quy mô quốc gia. Điều này giúp Việt Nam có thị phần trong thị trường sản xuất hàng hoá cần tay nghề thấp như dệt may và giày dép. Xuất khẩu của Việt Nam cũng đang gia tăng về giá trị do đầu tư nước ngoài trong ngành điện tử của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Việc Nhật Bản tăng nhanh đầu tư vào Việt Nam được xem là dấu hiệu tích cực cho năng lực sản xuất và tăng trưởng trong ngành sản xuất trong tương lai. Năm 2011, đầu tư của Nhật Bản chiếm 25% tổng số dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, và từ đầu năm đến tháng 10/2012, con số này đã tăng tới 58%.

Theo một khảo sát của Tổ chức Xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn do chi phí sản xuất thấp, lực lượng lao động dồi dào và ổn định về mặt chính trị. Họ đánh giá Việt Nam có chi phí rẻ hơn và ổn định hơn so với Thái Lan và Trung Quốc.

Tuy nhiên, Việt Nam tụt hậu so với cả Trung Quốc và Thái Lan về kết nối với các thị trường trong khu vực và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản có đầu tư tại đây. Đồng yên Nhật mạnh hơn tiền đồng là một điểm tích cực nữa, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Báo cáo của HSBC cho rằng: Nếu Việt Nam tiếp tục cải thiện các điều kiện kinh tế thì FDI có khả năng tăng tốc. Các lĩnh vực quan ngại bao gồm cơ sở hạ tầng, tiếp cận với nguyên vật liệu thô, thuế hải quan, thủ tục hành chính, tham nhũng và hàng hóa trung gian cho sản xuất. Tuy vậy, ngay cả trong môi trường kinh doanh hiện tại, nhiều công ty Nhật Bản vẫn đang đổ xô đến Việt Nam để giảm chi phí và mở rộng cơ sở sản xuất của họ.

“Với việc Chính phủ Việt Nam ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô hơn là tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, chúng ta hy vọng Việt Nam sẽ có nhiều tiến triển”, báo cáo của HSBC viết.

(Nguồn: DĐĐT)

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 2 của 89

Thư ngỏ

Kính gửi: Quý độc giả trong và ngoài nước Phấn đấu đi lên từ nhân tố mới, cơ hội mới Năm 2012 kết thúc... Chi tiết...

Dự án NM Thép Guang Lian

1. Tên dự án: Nhà máy thép Guang Lian Dung Quất. 2. Chủ đầu tư: Công ty TNHH Guang Lian Steel (Việt Nam). Bao gồm: Tập đoàn... Chi tiết...

Diễn Đàn Thương Hiệu Biển

Nội dung một số bài bài tham luận được đăng tải tại đây chưa phải là nội dung cuối cùng. Các bài viết sẽ tiếp... Chi tiết...

Thủ tục hành chính

Ban quản lý KKT Dung Quất công bố 119 bộ thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: ĐẦU TƯ, TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG,... Chi tiết...

Sự kiện

Hình ảnh
Hạ thủy tàu chở dầu thô lớn nhất Việt Nam
Hình ảnh
Chính thức bàn giao Nhà máy sản xuất Polypropylene...
Xem tất cả...

Thư viện ảnh

Quảng cáo

Trang thông tin điện tử Ban Quản Lý Khu Kinh tế Dung Quất
Giấy phép số: 140/GP-BC, cấp ngày:26/05/2006 của Cục báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cơ quan chủ quản: Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất - Email: kktdq@dungquat.com.vn
Tổng Biên tập: Lê Văn Dũng - Phó Trưởng Ban quản lý KKT Dung Quất
Khu đô thị mới Vạn Tường - huyện Bình Sơn - tỉnh Quảng Ngãi; Tel: 055.3609317/3640442; Fax: 055.3645828