Chủ nhật, 19.05.2013
  • TRANG CHỦ
  • TIN TỨC - SỰ KIỆN
    • Tin nổi bật
    • Tin từ Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất
    • Sự kiện
    • Tin từ doanh nghiệp
    • Các tin tức khác
  • HỎI ĐÁP
  • SƠ ĐỒ WEBSITE
English  English
Home Danh mục

Giới thiệu

Tổng quan
Vị Trí địa lý Hạ tầng kỹ thuật Tiện ích xã hội
Tổ chức bộ máy BQL
Quy hoạch
Quy hoạch chung Quy hoạch chi tiết Bản đồ quy hoạch
CHUYÊN MỤC ĐẦU TƯ
Dự án đầu tư
Danh mục dự án đầu tư Dự án gọi vốn đầu tư
Hướng dẫn hỗ trợ đầu tư
Hướng dẫn đầu tư Hỗ trợ đầu tư Ưu đãi đầu tư Một số form mẫu
Thông tin dịch vụ
Khách sạn - Nhà Hàng Ngân hàng Điểm tham quan du lịch Vận chuyển

Tài Nguyên Môi Trường

  • Bảng giá đất
  • Môi trường

Lao động - Việc làm

  • Nguồn nhân lực
  • Tuyển dụng lao động
  • Mẫu báo cáo

Văn bản

  • Trung ương (TW)
  • Tỉnh Quảng Ngãi
  • Văn bản ban quản lý

Lịch công tác

  • Lịch công tác

Đăng nhập E-mail



Tìm kiếm

Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Đang online: 28
Visitors Counter
về đầu trang
Các tin tức khác
Chuẩn bị khởi công cao tốc đầu tiên qua miền Trung PDF. In Email
Thứ hai, 13 Tháng 5 2013 15:16
Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã thống nhất được với địa phương và các cơ quan liên quan để tổ chức khởi công Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi đúng dịp kỷ niệm sinh nhật Bác 19/5 tại thôn Kỳ Long, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn (Quảng Nam).

“Số phận” long đong

Có thể nói, so với các tuyến cao tốc đường bộ khác, Đà Nẵng - Quảng Ngãi có “số phận” khá long đong khi phải mất ngót nghét chục năm chuẩn bị và qua nhiều lần thay đổi cơ chế về nguồn vốn và chủ đầu tư. Ban đầu tuyến đường được giao cho Ban QLDA 85 thuộc Bộ GTVT chuẩn bị và quản lý dự án. Sau đó, do gặp khó khăn về vốn, dự án này dự định phải thay đổi hình thức kêu gọi đầu tư, huy động các nguồn vốn xã hội hóa để xây dựng. Tuy nhiên, phương án này cũng gặp nhiều trở ngại và không thể trở thành hiện thực. Cuối cùng, Bộ GTVT đã giao VEC làm chủ đầu tư, huy động nguồn vốn thương mại và ưu đãi từ các nhà tài trợ Jica và WB.


Phối cảnh một đoạn đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi

Những năm gần đây, khi công tác thu xếp vốn đã ổn thỏa, Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi lại gặp rất nhiều khó khăn về thiết kế kỹ thuật và phải nhiều lần lùi thời hạn khởi công. Dịch vụ tư vấn cho thiết kế chi tiết đã chính thức bắt đầu từ đầu tháng 12/2011. Liên danh 4 nhà thầu ngoại gồm Nippon Koei, Nippon Engineering Consultants, Chodai và Thai Engieering Consultants được chọn làm tư vấn thiết kế cho tuyến đường. Rất nhiều đơn vị thiết kế trong nước cũng được huy động làm thầu phụ. Dự kiến trước đây, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi có thể khởi công vào năm 2012. Tuy nhiên, do tiến độ thiết kế triển khai chậm trễ, thời gian khởi công đã phải lùi lại.

 

Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi có chiều dài toàn tuyến gần 140km, bao gồm 131,5km đường cao tốc, 8,02km đường nối với QL1A. Tuyến đường được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cao tốc 4 làn xe, rộng 26m, mặt đường bằng bê tông asphalt (dự phòng mở rộng 6 làn).

Cùng với đó phải kể tới những khó khăn về phân định trách nhiệm của các bên liên quan do có những thời điểm chưa được rạch ròi. Mặc dù chủ đầu tư là VEC, nhưng những đơn vị được giao quản lý dự án lại là các Ban QLDA 1 và 85. Để giải quyết dứt điểm những vướng mắc này, tại một cuộc họp liên quan đến dự án, ông Mai Tuấn Anh, Tổng giám đốc VEC thẳng thắn đề nghị, về cơ chế trách nhiệm, VEC được giao làm chủ đầu tư thì VEC sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ, không né tránh. Tuy nhiên, việc quản lý dự án giao cho Ban QLDA 1, 85 nên các ban cũng có vai trò hết sức quan trọng. “Tiến độ chuẩn bị dự án nhanh hay chậm, chất lượng tốt hay không phụ thuộc nhiều vào nỗ lực của các đơn vị này. Đặc biệt, đây lại là một dự án lớn, phức tạp, thiết kế thay đổi nhiều so với ban đầu, hơn nữa công tác thiết kế đã giao cho Ban QLDA 85 nên các ban QLDA cần phát huy vai trò trách nhiệm hơn để cùng với các đơn vị tư vấn đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị, sớm khởi công tuyến đường” - ông Tuấn Anh nói.

Sẵn sàng cho thời khắc lịch sử

Việc khởi công cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.

Đến nay, gần như tất cả những khó khăn, vướng mắc liên quan đến tuyến cao tốc trọng điểm qua miền Trung đã được thu xếp ổn thỏa và sẵn sàng cho việc khởi công xây dựng. Trung tuần tháng 4/2013, VEC đã ký hợp đồng và lựa chọn được liên danh nhà thầu xây lắp đầu tiên cho gói thầu 3A. Hai doanh nghiệp lớn, có uy tín và thương hiệu của ngành GTVT là Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4 và Tổng công ty Xây dựng Thăng Long đã được “chọn mặt”. Đây cũng là gói thầu tiên phong khởi công vào ngày 19/5 tới đây.

Cuối tháng 4/2013, VEC cũng đã hoàn tất việc lựa chọn và ký hợp đồng với liên danh các nhà thầu tư vấn giám sát (đoạn do Jica tài trợ) có thương hiệu và uy tín hàng đầu trên thế giới và đã từng triển khai nhiều dự án giao thông lớn của Việt Nam là OC - Kei - Smec. Đây là những thủ tục cần thiết cuối cùng để sẵn sàng cho ngày khởi công dự án.

Theo Đức Thắng/Báo Giao thông vận tải

 

 
Bác dự án nếu chỉ lợi cho nhà đầu tư PDF. In Email
Thứ hai, 13 Tháng 5 2013 09:37
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Mạnh Hiển  cho biết Dự  thảo Luật Đất đai sửa đổi đưa các quy định về việc thu hồi đất để phát triển các dự án kinh tế-xã hội phải được HĐND tỉnh, thành phố xem xét, thông qua. Nếu dự án đó chỉ có lợi cho nhà đầu tư thì sẽ bác bỏ dự án đó.

Tại cuộc giao lưu trực tuyến về góp ý Luật Đất đai sửa đổi do Báo Điện tử Đảng Cộng sản và Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức sáng ngày 9/5, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển cho biết đến nay đã có 6,9 triệu ý kiến tham gia góp ý vào dự thảo Luật.

Đa số các ý kiến tập trung vào những vấn đề như: thủ tục giao đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, công tác thanh kiểm tra và chế tài đối với các sai phạm... Ban soạn thảo đang tổng hợp, tiếp thu và giải trình nghiêm túc các nội dung cho phù hợp với tình hình của đất nước.

Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này cũng đưa vào nhiều điểm mới như: làm rõ quyền sở hữu; quyền, trách nhiệm của người sử dụng đất; tập trung vào nông nghiệp, nông dân như kéo dài thời gian sử dụng đất có thể từ 50-70 năm, nâng hạn mức sử dụng, nhận chuyển quyền, quản lý nghiêm ngặt đất lúa, rừng phòng hộ, hạn chế giao đất không thu tiền cho các đơn vị sự nghiệp Nhà nước mà chuyển sang cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án nhằm nâng cao tính minh bạch, tránh cơ chế xin-cho, tăng nguồn thu cho ngân sách...

Đặc biệt, dự thảo Luật Đất đai sửa đổi cũng đưa các quy định về việc thu hồi đất để phát triển các dự án kinh tế-xã hội phải được HĐND tỉnh, thành phố xem xét, thông qua, nếu chỉ có lợi cho nhà đầu tư thì sẽ bác bỏ dự án đó.

Để hạn chế tình trạng khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất và mức bồi thường cho người dân, dự thảo Luật đã quy định rõ về mức bồi thường cụ thể với người bị thu hồi đất như: phải bồi thường về đất; chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu có; bồi thường thiệt hại về tài sản (nếu trên đất bị thu hồi có tài sản gắn liền với đất được hình thành hợp pháp); bồi thường thiệt hại do ngừng sản xuất kinh doanh (đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà phải ngưng sản xuất, kinh doanh); bồi thường chi phí di chuyển nếu có, khi Nhà nước thu hồi; tùy từng trường hợp cụ thể mà người bị thu hồi đất được Nhà nước bồi thường các khoản như đã nêu trên.

Các chính sách liên quan đến hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, thu hồi đất ở đô thị mà ảnh hưởng đến sinh kế của người có đất bị thu hồi, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở.

Lê Sơn (Chinhphu.vn)

 

 
Ban hành Nghị định về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức PDF. In Email
Thứ sáu, 03 Tháng 5 2013 13:56
Theo Nghị định 36/2013/NĐ-CP về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm được  phân làm 3 loại: Vị trí việc làm do một người đảm nhận; vị trí việc làm do nhiều người đảm nhận; vị trí việc làm kiêm nhiệm.

Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Cấu trúc của mỗi vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm bản mô tả công việc và khung năng lực phù hợp để hoàn thành công việc.

Việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị được thực hiện theo phương pháp tổng hợp, nghĩa là việc kết hợp giữa hoạt động phân tích tổ chức và phân tích công việc...

Cơ cấu ngạch công chức

Bên cạnh quy định vị trí việc làm, Nghị định cũng quy định cụ thể về cơ cấu ngạch công chức. Theo đó, cơ cấu ngạch công chức của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị là tỷ lệ % công chức giữ các ngạch phù hợp với Danh mục vị trí việc làm và biên chế công chức tương ứng.

Căn cứ xác định cơ cấu ngạch công chức dựa vào Danh mục vị trí việc làm; tiêu chuẩn và chức danh ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm.

Hàng năm, khi có biến động về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, bộ máy; tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc, độ phức tạp, quy mô, phạm vi, đối tượng phục vụ; mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xây dựng đề án điều chỉnh vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức trình cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Xem Nghị định 36/2013/NĐ-CP

Hoàng Diên (Chinhphu.vn)

 
Đề án vị trí việc làm ổn định từ 1-3 năm PDF. In Email
Thứ sáu, 03 Tháng 5 2013 13:54
Theo đề xuất của Bộ Nội vụ, đề án vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn  vị được phê duyệt ổn định từ 1-3 năm.

Đề xuất trên được đưa ra trong dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo.

Theo đề xuất của Bộ Nội vụ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập (Bộ), UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (tỉnh) có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý, trình cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Đề án này sẽ được phê duyệt ổn định từ 1-3 năm. Đồng thời, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên rà soát về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức của đề

Bộ Nội vụ cho biết, hiện Nghị định về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức đã được trình Chính phủ để xem xét, ban hành.

án vị trí việc làm đã được phê duyệt. Hằng năm, xây dựng đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong các trường hợp quy định.

Bộ Nội vụ cho biết, hằng năm, nếu các cơ quan, tổ chức, đơn vị không gửi công văn và đề án đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh vị trí việc làm theo quy định thì giữ ổn định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức đã được phê duyệt. Đối với những cơ quan, tổ chức, đơn vị thành lập mới trước khi ra quyết định, cơ quan có thẩm quyền thành lập phải gửi hồ sơ phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức về cơ quan có thẩm quyền quyết định để phê duyệt

theo quy định.

Ba bước xây dựng, phê duyệt đề án vị trí việc làm

Theo dự thảo, việc xây dựng và phê duyệt đề án vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được thực hiện theo trình tự 3 bước sau:

Bước 1: Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm hằng năm của đơn vị mình trình cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định.

Bước 2: Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp có trách nhiệm thẩm định đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý; tổng hợp, xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của mình trình người đứng đầu ký và gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định.

Bước 3: Vụ (Ban) Tổ chức Cán bộ các Bộ giúp lãnh đạo Bộ thẩm định đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ; tổng hợp, xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Bộ, trình lãnh đạo Bộ có văn bản gửi Bộ Nội vụ theo quy định.

Bên cạnh đó, Sở Nội vụ giúp UBND tỉnh thẩm định đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc tỉnh; tổng hợp, xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của tỉnh, trình lãnh đạo UBND tỉnh có văn bản gửi Bộ Nội vụ theo quy định.

Cũng theo dự thảo, trên cơ sở thống kê công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ đạo, triển khai việc tổng hợp và phân nhóm công việc thành: 1- Các nhóm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành; 2- Các nhóm công việc hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; 3- Các nhóm công việc hỗ trợ, phục vụ.

Bạn đọc xem toàn văn và góp ý dự thảo tại đây.

Thanh Hoài

 
4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu tăng cao PDF. In Email
Thứ sáu, 03 Tháng 5 2013 13:53
Sở Công Thương cho biết, kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh  ước đạt gần 272 triệu USD, tăng 113% so với cùng kỳ năm trước, đạt 72% kế hoạch năm.Trong đó, kinh tế nhà nước đạt 27,5 triệu USD, tăng 54,94%; kinh tế tư nhân đạt 54 triệu USD, tăng 10,60%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 190 triệu USD, tăng 212,12%.

Riêng trong tháng 4/2013, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 23,2 triệu USD.

Một số sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu tăng cao là sản phẩm cơ khí ước đạt 190 triệu USD, tăng 212,12%; dầu FO ước đạt gần 26 triệu USD, tăng 112,25%; hàng thủy sản đạt 1,7 triệu USD, tăng 50,57%; hàng dệt may đạt gần 3,3 triệu USD, tăng 68,56%; tinh bột sắn ước đạt 24,1 triệu USD, tăng gần 13%,..

V.T

 
Thu ngân sách 4 tháng đầu năm 2013 đạt 8.605 tỷ đồng PDF. In Email
Thứ sáu, 03 Tháng 5 2013 13:52
Sở Tài chính cho biết, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn  tỉnh 4 tháng đầu năm 2013 đạt 8.605 tỷ đồng, bằng 39,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 7.600 tỷ đồng, thu hoạt động xuất nhập khẩu 875 tỷ đồng. Riêng tháng 4/2013, thu ngân sách đạt 2.820 tỷ đồng.

Tổng chi ngân sách địa phương 4 tháng ước đạt 2.440 tỷ đồng, bằng 33,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển là 540 tỷ đồng, chi thường xuyên 1.567 tỷ đồng.

V.T

 
Thông báo nghỉ lễ PDF. In Email
Thứ hai, 08 Tháng 4 2013 07:54
Ngày 05-4, UBND tỉnh có thông báo về việc nghỉ các ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương,  Chiến thắng 30/4 và Quốc tế lao động 1/5.

Theo đó, ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (ngày 10 tháng 3 năm 2013) cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính tị, tổ chức chính trị - xã hội được nghỉ 01 ngày, vào ngày 19/4/2013 (thứ Sáu).

Lễ Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5/2013: Thực hiện theo điểm 3 Thông báo số 326/TB-UBND ngày 20/12/2012 của UBND tỉnh về việc hoán đổi ngày nghỉ hàng tuần và treo cờ Tổ quốc vào các dịp lễ, tết năm 2013 (Công chức viên chức và người lao động được nghỉ 05 ngày liên tục, từ ngày 27/4/2013 đến hết ngày 01/5/2013; đi làm bù thứ Bày, ngày 04/5/2013).

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh thực hiện treo cờ Tổ quốc trong các ngày: lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 1/5.

V.N (Cổng TTĐT Q.Ngãi)

 

 
Khôi phục ưu đãi thuế cho khu công nghiệp PDF. In Email
Thứ năm, 21 Tháng 3 2013 10:33
Cùng với việc đề xuất cho các dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu  đãi đầu tư, Bộ Tài chính cũng đã đưa  quy định về ưu đãi thuế với khu công nghiệp (KCN) vào Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sửa đổi.

“Được vậy thì quá tốt”. Đó là bình luận của ông Võ Văn Hải, Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, khi được biết thông tin tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 18/3, Bộ Tài chính đã trình Dự thảo Luật Thuế TNDN sửa đổi và một trong những nội dung được đông đảo nhà đầu tư trông chờ, đó là sẽ bổ sung quy định ưu đãi thuế TNDN đối với KCN.

Kể từ khi Luật Thuế TNDN 2008 có hiệu lực (1/1/2009), ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN, và cả doanh nghiệp đầu tư trong KCN đều bị  bãi bỏ. Từ đó tới nay, thu hút đầu tư vào KCN rất khó khăn.

“Có những thời điểm, chẳng nhà đầu tư nào vào cả”, ông Hải nói.

Thực tế này không chỉ diễn ra ở Nghệ An, mà ở khắp cả nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhiều lần khẳng định điều này và cũng đã nhiều lần đề nghị Bộ Tài chính, khi sửa đổi Luật Thuế TNDN thì nên khôi phục ưu đãi thuế TNDN cho KCN.

“Việc bỏ quy định ưu đãi thuế đối với KCN đã phát sinh bất cập, do hầu hết các KCN được phân bố ở vùng kinh tế trọng điểm (chiếm khoảng 80% trong tổng số KCN), không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, tuy có thuận lợi về vị trí, hạ tầng, nhưng chi phí đền bù, xây dựng hạ tầng cao, dẫn đến giá thuê lại đất trong KCN rất cao. Vì vậy, nếu không có chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với KCN, thì rất ít doanh nghiệp đầu tư vào đây”, lãnh đạo Bộ Tài  chính đã lý giải như vậy và cho biết, trong Dự thảo Luật Thuế TNDN mà Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này, có quy định rằng, doanh nghiệp thực hiện  dự án đầu tư mới tại KCN (trừ KCN thuộc các thành phố trực thuộc Trung ương) được miễn thuế TNDN trong 2 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

“Việc ưu đãi thuế cũng cần có chọn lọc, tránh dàn trải. Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương (bao gồm Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) đã được định hướng phát triển thành các trung tâm dịch vụ, tài chính, văn hoá của cả nước, thì không cần thiết khuyến khích phát triển các KCN”, bà Vũ Thị Mai, Thứ trưởng Bộ Tài chính nói.

Tuy nhiên, trái với đề xuất về việc cho dự án mở rộng đầu tư được hưởng ưu đãi thuế, đã nhận được sự ủng hộ rất lớn từ dư luận, thì dự thảo quy định về việc bổ sung ưu đãi đối với KCN lại có nhiều ý kiến trái chiều.

Quan điểm từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các cơ quan quản lý đầu tư, cũng như các nhà đầu tư là đồng tình. Nhưng đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách lại không tán thành đề xuất này.

Theo ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, chính sách ưu đãi thuế đối với KCN đã được áp dụng, nhưng trên thực tế đã dẫn đến tình trạng ưu đãi tràn lan. “Việc phần lớn doanh nghiệp đều lựa chọn đầu tư vào KCN tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi về hạ tầng, giao thông đã làm giảm hiệu quả chính sách thu hút đầu tư vào phát triển vùng miền khó khăn, đặc biệt khó khăn”, ông Hiển nói.

Luật Thuế TNDN được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, cần phải hiểu rộng như là Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Vì thế, cần giảm mức thuế suất thuế TNDN để đủ sức hấp dẫn thu hút đầu tư. Nhưng giảm thuế chỉ là một khía cạnh, những ưu đãi về thuế chính là một trong những công cụ tốt để Việt Nam có thể tăng cường thu hút FDI, nhất là trong bối cảnh dòng vốn này vào Việt Nam đang sụt giảm trong thời gian gần đây.

“Nhiều người nhầm lẫn khi cho rằng, những ưu đãi về thuế là không cần thiết để thu hút đầu tư. Nhưng thực tế, kết quả của việc thu hẹp các ưu đãi về thuế là việc mất đi một số dự án tốt”, ông Fred Burke, Hãng Luật Baker McKenzie, đã nhiều lần phát biểu như vậy.

Nguyên Đức (baodautu.vn)

 
Bổ sung quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ công chức PDF. In Email
Thứ sáu, 22 Tháng 2 2013 13:59

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 17/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị  định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ mà chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh thì được xét nâng một bậc lương trước thời hạn tối đa là 12 tháng so với thời gian quy định.

Tại quy định hiện đang được áp dụng tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức được nâng bậc lương trước thời hạn trong một năm không quá 5% tổng số cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế trả lương của cơ quan, đơn vị. Tỷ lệ này được tăng lên thành không quá 10% tại Nghị định mới.

Bổ sung đối tượng công chức

Nghị định mới cũng bổ sung đối tượng áp dụng trong Bảng 2 “Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Cụ thể, đối với công chức loại A3, Nhóm 1 (A3.1), bên cạnh 8 đối tượng gồm: Chuyên viên cao cấp; Thanh tra viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp thuế; Kiểm toán viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp ngân hàng; Kiểm tra viên cao cấp hải quan; Thẩm kế viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp thị trường; Nghị định mới bổ sung thêm 5 đối tượng là: Thống kê viên cao cấp; Kiểm soát viên cao cấp chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Chấp hành viên cao cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên cao cấp (thi hành án dân sự); Kiểm tra viên cao cấp thuế.

Nhóm 1, công chức loại A2 (A2.1) bổ sung thêm 6 đối tượng gồm: Thông kê viên chính; Kiểm soát viên chính chất lượng sản phẩm hàng hóa; Chấp hành viên trung cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên chính (thi hành án dân sự); Kiểm tra viên chính thuế; Kiểm lâm viên chính.

Công chức loại A1 được bổ sung thêm 8 đối tượng là: Thống kê viên; Kiểm soát viên chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Kỹ thuật viên bảo quản; Chấp hành viên sơ cấp (thi hành án dân sự); Thẩm tra viên (thi hành án dân sự); Thư ký thi hành án (dân sự); Kiểm tra viên thuế; Kiểm lâm viên.

7 đối tượng được bổ sung vào bảng công chức loại B gồm: Thống kê viên trung cấp; Kiểm soát viên trung cấp chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Thư ký trung cấp thi hành án (dân sự); Kiểm tra viên trung cấp thuế; Kiểm lâm viên trung cấp; Kỹ thuật viên bảo quản trung cấp; Thủ kho bảo quản.

Ngoài ra, Nhân viên bảo vệ kho dự trữ cũng được bổ sung vào ngạch công chức loại C.

Sửa “Ngạch viên chức” thành “Chức danh nghề nghiệp viên chức”

Quy định mới cũng sửa đổi tên gọi “Ngạch viên chức” bằng “Chức danh nghề nghiệp viên chức”.

Đồng thời, bổ sung đối tượng áp dụng trong Bảng 3 “Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Cụ thể, 3 chức danh nghề nghiệp viên chức được bổ sung vào Nhóm viên chức loại A3 (A3.1) là: Điều tra viên cao cấp tài nguyên môi trường; Dự báo viên cao cấp khí tượng thủy văn; Kiểm soát viên cao cấp khí tượng thủy văn.

Nhóm 1, viên chức loại A2 (A2.1) được bổ sung 14 chức danh nghề nghiệp viên chức bao gồm: Công tác xã hội viên chính; Trợ giúp viên pháp lý chính; Hộ sinh chính; Kỹ thuật viên chính y; Y tế công cộng chính; Điều dưỡng chính; Dân số viên chính; Kiểm định viên chính kỹ thuật an toàn lao động; Trắc địa bản đồ viên chính; Địa chính viên chính; Điều tra viên chính tài nguyên môi trường; Quan trắc viên chính tài nguyên môi trường; Dự báo viên chính khí tượng thủy văn; Kiểm soát viên chính khí tượng thủy văn.

Bên cạnh đó, viên chức loại A1 cũng được bổ sung thêm 17 chức danh nghề nghiệp viên chức, trong đó có giáo viên tiểu học cao cấp, giáo viên mầm non cao cấp, giáo viên trung học cơ sở chính… Viên chức loại Ao bổ sung 11 đối tượng, viên chức loại B bổ sung 12 đối tượng, viên chức nhóm 1, loại C (C1) được bổ sung 6 đối tượng.

Bổ sung bảng nâng lương đối với sỹ quan cấp tướng

Bên cạnh đó, Nghị định mới cũng bổ sung bảng nâng lương đối với sỹ quan cấp tướng thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân tại Bảng 6 “Bảng nâng lương cấp bậc quân hàm sỹ quan quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan công an nhân dân” ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP như sau:

 

TT

Cấp bậc quân hàm

Hệ số nâng lương (1 lần)

1

Đại tướng

11,00

2

Thượng tướng

10,40

3

Trung tướng

9,80

4

Thiếu tướng

9,20

 

Thời hạn nâng lương của cấp bậc quân hàm Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng là 4 năm.

Quy định mới có hiệu lực từ ngày 10/4/2013.

Thanh Hoài (Chinhphu.vn)

 

 
FDI: Cuộc dịch chuyển vĩ đại PDF. In Email
Thứ tư, 20 Tháng 2 2013 10:37
Báo cáo nghiên cứu về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Ngân hàng HSBC mới đây với tiêu đề “Cuộc dịch chuyển vĩ đại” đưa ra những nhận định đáng chú ý về sự dịch chuyển lớn của FDI đã và đang tiếp tục hướng sang các nước ASEAN và Ấn Độ như thế nào.

Trung Quốc không còn lợi thế như trước

Theo báo cáo của HSBC, trong 20 năm qua, Trung Quốc là nước tiếp nhận nguồn vốn FDI lớn nhất trong số các nước đang phát triển. FDI đã giúp Trung Quốc thành một căn cứ công nghiệp lớn của thế giới. Trung Quốc có lợi thế lực lượng lao động nông thôn dư thừa (vào lúc đó chiếm khoảng 75% của tổng dân số) có thể được chuyển vào các nhà máy để nâng cao năng lực sản xuất; quốc gia này cũng cần cải thiện kỹ năng và công nghệ để có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Dòng vốn FDI đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy việc làm, kích thích năng lực sản xuất và hoạt động xuất khẩu; từ đó đóng vai trò quan trọng đưa Trung Quốc từ một quốc gia nông thôn nghèo tụt hậu tiến lên thành một cường quốc kinh tế.

Tuy nhiên, chi phí sản xuất kinh doanh ở Trung Quốc đang tăng cao do tiền lương nhân công tăng, đồng tiền nội tệ mạnh hơn và chuỗi giá trị cũng tăng; cùng với đó là tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến các công ty quốc tế, đa phần là các nhà sản xuất sử dụng nhiều lao động đang tìm cách chuyển hướng và mở rộng đầu tư của họ ở những quốc gia khác. Những quốc gia mạnh về nguồn lực lao động với chi phí thấp và có thị trường nội địa lớn, năng động sẽ là những điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn này.

Theo ghi nhận của HSBC, sản xuất hàng dệt may chảy vào Trung Quốc đã giảm 18,9% từ tháng 1-11/2012; trong khi đó, dòng vốn FDI cho ngành sản xuất vào Indonesia và Thái Lan tăng tương ứng 66% và 43%.

Gần đây, khá đông nhà đầu tư từ Nhật Bản đã chuyển tới các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam để đa dạng hóa rủi ro từ Trung Quốc. Và không chỉ Nhật Bản. Các công ty từ nhiều nước khác cũng góp phần vào trào lưu dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc khi họ đi tìm những cơ sở rẻ hơn. Ấn Độ là một điểm đến hàng đầu khi có lực lượng dân số cùng kích cỡ. Ấn Độ có khoảng 800 triệu người trong độ tuổi lao động (từ 15 tới 64), trong đó 560 triệu người ở nông thôn. Trung Quốc có khoảng 1 tỷ người trong tuổi lao động, trong đó 500 triệu ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, tới năm 2020, dân số nông thôn của Ấn Độ sẽ tăng tới 600 triệu trong khi con số này ở Trung Quốc giảm xuống 385 triệu (dự báo của Liên hiệp quốc). Điều này khiến Ấn Độ trở trên cạnh tranh hơn về lao động.

Những thay đổi ở Trung Quốc đã cho thấy một cơ hội lớn để thúc đẩy FDI. Trước khủng hoảng tài chính châu Á, dòng vốn vào ASEAN rất lớn, chiếm khoảng 8% tổng nguồn vốn lưu chuyển trên thế giới. Trong năm năm sau khủng hoảng, dòng vốn này giảm khoảng 2% trên tổng vốn lưu chuyển trên thế giới. Nhưng trong hai năm vừa rồi, các nhà đầu tư đã quay lại ASEAN bởi cả hai lý do: tiềm năng tăng trưởng và lợi thế chi phí rẻ. Kết quả là dòng vốn vào ASEAN đã ngang ngửa với phần vốn vào Trung Quốc, 7,6% so với 8,1%.

Báo cáo của HSBC cho rằng: Có ba yếu tố quan trọng khiến phần vốn FDI vào ASEAN có khả năng tăng lên trong thập kỷ tới; đó là chi phí vốn rẻ từ các chính sách nới lỏng tiền tệ ở các quốc gia trong khu vực này; Các đồng tiền mạnh tăng giá như đồng yên, Euro và nhân dân tệ; và thứ ba là kinh tế còn trì trệ ở những nước phát triển.

Tìm kiếm một ngôi nhà mới

Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia cũng cân nhắc những yếu tố khác ngoài yếu tố nói trên khi quyết định đầu tư, bao gồm môi trường chính sách và sự thuận lợi khi làm ăn kinh doanh.

Philippines và Việt Nam là hai nước có lực lượng lao động lớn và thị trường đủ lớn để duy trì nhu cầu nội địa mạnh mẽ. Trong bảy năm tới, dân số Philippines sẽ tăng lên 110 triệu người (dự báo của Liên hiệp quốc) từ con số 96 triệu năm 2012. Mặc dù Việt Nam có một dân số nhỏ hơn (89 triệu), nhưng nguồn cung lao động mạnh mẽ và rẻ ở khu vực nông thôn (khoảng 70% dân số sống ở nông thôn) cho thấy Việt Nam có lợi thế về sản xuất cần nhiều lao động.

Việt Nam có một mô hình đặt trọng tâm xuất khẩu tương tự với Trung Quốc. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất thông qua chính sách và các ưu đãi một cách mạnh mẽ hơn Philippines nhiều. Trong khi tiềm năng về kích cỡ thị trường nhỏ hơn, Việt Nam cũng sẽ gia nhập câu lạc bộ 100 triệu dân vào giữa các năm 2020. Nếu thu nhập tiếp tục tăng, Việt Nam sẽ trở thành một đích đến ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

Đánh giá chung: Ấn Độ và Philippines có nhiều tiềm năng rất lớn nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém và chính sách FDI hạn chế là những trở ngại chính cho những nước này. Indonesia và Việt Nam sẽ có khả năng hưởng lợi nhiều nhất xét về mặt lợi thế chi phí. Thái Lan với một môi trường kinh doanh tốt và một chuỗi cung cấp liên kết, là một điểm đến hấp dẫn nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều rủi ro về chính trị và chi phí tiền lương. Malaysia có môi trường kinh doanh mạnh và những chính sách hỗ trợ FDI nhưng thị trường tại Malaysia còn nhỏ và mức lương cao cũng khiến Malaysia kém cạnh tranh so với các nước khác.

Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

Nếu tính tỷ lệ so với GDP, Việt Nam là nước lớn đứng thứ hai về thu hút vốn FDI tại Đông Nam Á sau Singapore. Thành quả này có được là do Việt Nam có nguồn lao động giá rẻ nhất trong số các nước Đông Nam Á và môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn so với Ấn Độ, Philippines, Indonesia, mặc dù Việt Nam vẫn còn thua đáng kể so với Thái Lan và Malaysia.

Tỷ lệ đô thị hóa vẫn còn thấp ở mức 30% và sẽ tiếp tục tăng tốc trong vài năm tới. Điều này có nghĩa rằng sự gia tăng năng lực sản xuất từ những người nông dân di cư vào thành phố trong hai thập kỷ qua sẽ còn tiếp tục diễn ra. Cùng với điều này, hơn 60% dân số Việt Nam dưới 35 tuổi và còn gia tăng trong hai thập kỷ tới. Điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ có nhu cầu trong nước nhiều hơn và áp lực về chi phí tiền lương ít hơn các nước khác.

Trong vài năm qua, Việt Nam đã phần nào đánh mất hào quang là một trong những nước thực hiện tốt nhất FDI trong khu vực do lạm phát không ổn định và quản lý kém hiệu quả đối với nền kinh tế. Điều này đã làm dòng vốn FDI chậm lại nhưng Việt Nam vẫn là một đất nước phát triển mạnh mẽ so với quy mô quốc gia. Điều này giúp Việt Nam có thị phần trong thị trường sản xuất hàng hoá cần tay nghề thấp như dệt may và giày dép. Xuất khẩu của Việt Nam cũng đang gia tăng về giá trị do đầu tư nước ngoài trong ngành điện tử của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Việc Nhật Bản tăng nhanh đầu tư vào Việt Nam được xem là dấu hiệu tích cực cho năng lực sản xuất và tăng trưởng trong ngành sản xuất trong tương lai. Năm 2011, đầu tư của Nhật Bản chiếm 25% tổng số dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, và từ đầu năm đến tháng 10/2012, con số này đã tăng tới 58%.

Theo một khảo sát của Tổ chức Xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn do chi phí sản xuất thấp, lực lượng lao động dồi dào và ổn định về mặt chính trị. Họ đánh giá Việt Nam có chi phí rẻ hơn và ổn định hơn so với Thái Lan và Trung Quốc.

Tuy nhiên, Việt Nam tụt hậu so với cả Trung Quốc và Thái Lan về kết nối với các thị trường trong khu vực và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản có đầu tư tại đây. Đồng yên Nhật mạnh hơn tiền đồng là một điểm tích cực nữa, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Báo cáo của HSBC cho rằng: Nếu Việt Nam tiếp tục cải thiện các điều kiện kinh tế thì FDI có khả năng tăng tốc. Các lĩnh vực quan ngại bao gồm cơ sở hạ tầng, tiếp cận với nguyên vật liệu thô, thuế hải quan, thủ tục hành chính, tham nhũng và hàng hóa trung gian cho sản xuất. Tuy vậy, ngay cả trong môi trường kinh doanh hiện tại, nhiều công ty Nhật Bản vẫn đang đổ xô đến Việt Nam để giảm chi phí và mở rộng cơ sở sản xuất của họ.

“Với việc Chính phủ Việt Nam ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô hơn là tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, chúng ta hy vọng Việt Nam sẽ có nhiều tiến triển”, báo cáo của HSBC viết.

(Nguồn: DĐĐT)

 
Muốn gia hạn thuế, doanh nghiệp phải có văn bản đề nghị PDF. In Email
Thứ tư, 20 Tháng 2 2013 10:37
Các doanh nghiệp thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế  giá trị gia tăng (GTGT) và giảm tiền thuê, sử dụng đất phải có văn bản đề nghị gửi đến cơ quan thuế trực tiếp để được thụ hưởng chính sách.

Theo hướng dẫn của Thông tư 16/2013/TT-BTC đăng trên website của Bộ Tài chính, các văn bản đề nghị này có mẫu sẵn (ban hành kèm thông tư). Doanh nghiệp chỉ cần điền theo mẫu rồi gửi về cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được thụ hưởng chính sách gia hạn thuế TNDN, GTGT trong năm 2013 cũng như giảm tiền thuê, sử dụng đất năm 2013, 2014.

Cụ thể, các doanh nghiệp thuộc đối tượng được gia hạn 6 tháng thời hạn nộp thuế TNDN đối với số thuế phát sinh phải nộp quí 1 và 3 tháng đối với số thuế phát sinh phải nộp quí 2 và quí 3-2013; doanh nghiệp được gia hạn 6 tháng thời hạn nộp thuế GTGT đối với số thuế phát sinh phải nộp của tháng 1, tháng 2, tháng 3-2013 (không bao gồm thuế GTGT ở khâu nhập khẩu) thì đăng ký theo mẫu số 1, số 2 ban hành kèm phụ lục với các chi tiết như tên người nộp thuế hoặc đại lý thuế (nếu có) kèm mã số thuế, số tiền được gia hạn, trường hợp được gia hạn và cam kết khai báo đúng.

Trường hợp doanh nghiệp được gia hạn thuế GTGT đã nộp tờ khai thuế tháng 1, 2, 3-2013 nhưng chưa lập đề nghị thì bổ sung cho cơ quan thuế. Còn nếu đã kê khai và nộp thuế thì thực hiện kê khai bổ sung điều chỉnh. Sau khi kê khai điều chỉnh nếu có số thuế nộp thừa được bù trừ vào số thuế phải nộp của hoạt động khác hoặc số thuế phải nộp của kỳ tính thuế tiếp theo hoặc đề nghị hoàn thuế theo quy định.

Trong thời gian được gia hạn nộp thuế, doanh nghiệp sẽ không bị xử phạt chậm nộp thuế.

Trong khi đó, các cá nhân và tổ chức thuộc đối tượng được giảm tiền thuê đất vốn trả tiền thuê hàng năm từ trước ngày 31-12-2010, sử dụng đất đúng mục đích, trong năm 2011 thuộc diện phải điều chỉnh đơn giá thuê đất theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP và số tiền thuê đất phát sinh năm 2013, năm 2014 tăng hơn 2 lần so với số tiền thuê đất phát sinh năm 2010 thì có giấy đề nghị gửi đến chi cục thuế địa phương (đối với tổ chức) và cục thuế tỉnh, thành phố (đối với cá nhân) theo mẫu phụ lục 3 và 4 ban hành kèm thông tư.

Các nội dung cần được khai báo là tên cá nhân hoặc người đứng tên trong sổ thuê đất (đối với tổ chức); số CMND, nơi cấp, năm cấp; địa chỉ thửa đất, giấy chứng nhận, diện tích, hợp đồng thuế, số tiền phải nộp năm 2010, năm 2013 và 2014 cũng như số tiền đề nghị giảm… Hồ sơ sẽ được kiểm tra và phê duyệt.

Ngoài việc hướng dẫn đăng ký để được thụ hưởng chính sách gia hạn, giảm thuế, thông tư 16 của Bộ Tài chính cũng quy định chi tiết đối tượng được hưởng chính sách, cách xác định tiêu chí về lao động, về doanh thu cũng như thời hạn phải hoàn thành nghĩa vụ thuế sau khi gia hạn hoặc giảm.

Thông tư kể trên bắt đầu có hiệu lực từ ngày 25-3 tới.

(Nguồn: TBKTSG)

 
Việt nam kỳ vọng “vẽ” lại bản đồ công xưởng thế giới PDF. In Email
Thứ tư, 20 Tháng 2 2013 10:36
Hơn 3 thập kỷ thành công trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)  đã biến Trung Quốc trở thành “công xưởng số 1 thế giới”, khiến người tiêu dùng toàn cầu dường như đã quá quen thuộc với hàng hoá có xuất xứ từ Trung Hoa đại lục. Nhưng “không có bữa tiệc nào kéo dài mãi mãi”, bản đồ “công xưởng thế giới” đang được vẽ lại với sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều quốc gia.

Lợi thế và cơ hội

Sau hàng thập niên thu hút hàng ngàn tỷ USD vốn FDI từ khắp nơi trên thế giới, năm 2012, FDI tại thị trường Trung Quốc với gần 1,4 tỷ dân đã giảm mạnh đúng như tiên đoán của TS. Patrick Dixon, Chủ tịch Globalchange - tổ chức chuyên tư vấn chiến lược phát triển cho các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới như Google, Microsoft, IBM, Air France… Và đây chính là cơ hội cho Việt Nam và những nước cạnh tranh thu hút FDI với Trung Quốc, như Indonesia, Philippines, Ấn Độ… vươn lên để “vẽ lại bản đồ công xưởng thế giới”.

TS. Patrick Dixon tiên đoán, với dân số 90 triệu người, trong đó độ tuổi trung bình chỉ có 27 và tỷ lệ người biết đọc, biết viết lên đến 94%, cộng với chi phí nhân công chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc, Thái Lan và thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh khác, trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ đóng vai trò là “nhà xưởng của thế giới”.

Nhận định của TS. Patrick Dixon được nhiều người chú ý, bởi ông được Wall Street Journal đánh giá là nhà tương lai học hàng đầu thế giới, đã từng dự đoán chính xác về khủng hoảng kinh tế tại châu Âu cũng như sự bứt phá của những nền kinh tế mới nổi.

Trước khi TS. Patrick Dixon đến Việt Nam vào cuối tháng 11/2012, chưa một chuyên gia kinh tế, nhà hoạch định chính sách nào mạnh dạn tiên đoán, với nhiều lợi thế về thị trường, giá nhân công, tài nguyên thiên nhiên, cửa ngõ của ASEAN để vào thị trường Đông Á..., Việt Nam sẽ trở thành một trong những ứng cử viên hàng đầu thay thế Trung Quốc làm công xưởng thế giới. Nhưng nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn thấy Việt Nam là mảnh đất đầy hứa hẹn.

Ông Preben Hjortlund, Chủ tịch EuroCham, người hiểu đến tận “chân tơ kẽ tóc” nền kinh tế Việt Nam sau hơn 10 năm sống và làm việc tại Việt Nam cho biết, nhiều doanh nghiệp châu Âu muốn biến Việt Nam là trụ sở chính để từ đó họ phục vụ thị trường ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ.

Chẳng thế mà, khi vừa được bầu vào ghế Chủ tịch EuroCham hồi tháng 3/2012, ông Preben Hjortlund tuyên bố sẽ đẩy mạnh xúc tiến đầu tư tại Việt Nam hơn nữa, quảng bá Việt Nam thành một điểm đến cho đầu tư nước ngoài, hợp tác chặt chẽ với Chính phủ để tối đa hóa thành công giữa các bên, vì một Việt Nam thịnh vượng. Ông cũng hy vọng, khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU được ký kết, FDI của EU vào Việt Nam sẽ tăng cả về số lượng và chất lượng.

Những minh chứng sống động

Ông Mark Gillin, Phó chủ tịch AmCham khá tự hào khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ đến đầu tư tại Việt Nam với số vốn FDI ngày càng tăng, từ mức 1,5 tỷ USD năm 2001 lên hơn 22 tỷ USD vào năm 2012. Ông Mark Gillin nhận định, nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là công ty Mỹ, vẫn đánh giá tích cực về cơ hội tại Việt Nam. Bằng chứng là, ngoài những doanh nghiệp mới “chân ướt chân ráo” đến Việt Nam, các doanh nghiệp đầu tư ở đây liên tục đổ thêm vốn để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. “Năm 2011, doanh nghiệp FDI Hoa Kỳ đã tăng giá trị đầu tư của họ tại Việt Nam lên 3,1 tỷ USD, tăng 1,7 lần so với năm 2010 (năm 2012 có 435 lượt dự án tăng vốn đầu tư thêm 5,15 tỷ USD, tăng 58,5% so với năm 2011), cho thấy sự hài lòng của họ đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam”, ông Mark Gillin đánh giá.

Ông Mark Gillin cho biết, các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ không chỉ nhìn thấy Việt Nam là một thị trường có 90 triệu người tiêu dùng với thu nhập bình quân đầu người đạt 1.600 USD (tăng 300 USD so với năm 2011), mà còn thấy ở đây nhiều tiềm năng để phát triển ngành sản xuất hiện đại, tạo ra giá trị thặng dư cao.

“Minh chứng là, Intel mạnh dạn đầu tư 1 tỷ USD cho nhà máy lắp ráp và kiểm tra chip máy tính tại Việt Nam. Một công ty khác đã đến Việt Nam cách đây 5 năm và gặt hái được khá nhiều thành công với kim ngạch xuất khẩu khoảng 50 triệu USD/năm cũng đang tìm vùng đất mới để mở rộng sản xuất, vì họ kỳ vọng doanh thu sẽ tăng gấp 3 lần trong 3 - 5 năm tới”, Phó chủ tịch AmCham cho biết.

Đại diện thị trường đứng đầu trong số 98 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, ông Hirokazu Yamaok, Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) rất hài lòng vì FDI của Nhật Bản ngày càng tăng mạnh kể cả chất và lượng. Mặc dù nhấn mạnh rằng, với nhà đầu tư Nhật Bản, Việt Nam tiếp tục là một trong những địa điểm tiềm năng nhất tại Đông Nam Á, song đại diện Jetro cũng lưu ý rằng, so với Thái Lan và Indonesia, FDI của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn.

“Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần sớm đưa ra nhiều giải pháp phù hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam so với Thái Lan và Indonesia - hai quốc gia cũng đang nổi lên là ứng viên tiềm tàng thay thế Trung Quốc làm công xưởng của thế giới”, ông Hirokazu Yamaok chia sẻ.

Ông Hirokazu Yamaok cũng tiết lộ, sau thảm họa sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, động đất tại Nhật Bản và lũ lụt kinh hoàng tại Thái Lan cùng trong năm 2011, doanh nghiệp Nhật Bản đã có bài học xương máu về việc “để trứng vào một giỏ”. Vì vậy, doanh nghiệp Nhật Bản đang tích cực tìm kiếm địa chỉ đầu tư mới, nhằm phân bổ nguồn lực đầu tư hợp lý và Việt Nam là một trong những điểm đến được nhà đầu tư Nhật Bản rất quan tâm. Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cảng biển và hệ thống cung ứng điện sẽ giúp Việt Nam giành được niềm tin của nhà đầu tư.

Trong khi đó, đại diện cho các doanh nghiệp Anh Quốc tại Việt Nam và cũng là đồng sáng lập Trung tâm Đào tạo Anh ngữ Apollo và Đại học Anh Quốc Việt Nam, ông Khalid Muhmood chia sẻ, ông không hối hận khi đã chọn Việt Nam làm điểm dừng chân của đời mình.

“Trước năm 1994, tôi làm việc ở Singapore và đứng trước cơ hội lựa chọn địa điểm làm việc tiếp theo ở Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Myanmar và Việt Nam. Sau khi đọc một bài báo trên “The Economist”, so sánh Việt Nam và Myanmar, tôi tự hỏi, quốc gia nào sẽ trở thành con Rồng châu Á tiếp theo? Tôi đã chọn Việt Nam và khi đến Việt Nam làm việc, tôi cảm thấy sự lựa chọn của mình là chính xác”, ông Khalid Muhmood chia sẻ sau 17 năm sống và làm việc tại Việt Nam.

Các trung tâm đào tạo do Khalid Muhmood đồng sáng lập tại Việt Nam ngày một phát triển. Có được kết quả này, theo ông Khalid Muhmood, là bởi ngay khi Việt Nam mới bắt đầu quá trình mở cửa, thu hút FDI, ông đã tin vào đường lối đổi mới sẽ đem lại nhiều thành tựu cho đất nước. Khi vốn FDI đổ vào Việt Nam, Việt Nam sẽ phải đầu tư cho giáo dục nhiều hơn, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ để tiếp cận trình độ quản lý tiên tiến, công nghệ hiện đại.

“Chính phủ Việt Nam đã hành động đúng đắn và vượt qua nhiều giai đoạn đầy thử thách trong quá khứ, do đó, tôi tin tưởng, Việt Nam tiếp tục thành công trong tương lai, các cơ sở giáo dục đào tạo được nhiều Ngô Bảo Châu trong tương lai”, ông Khalid Muhmood mong muốn.

Còn quá sớm để nói, Việt Nam sẽ trở thành công xưởng số 1 thế giới, song năm 2012 khép lại với những tín hiệu tích cực, khi nhiều dự án “tỷ đô” được tái khởi động. Khu vực FDI đã đạt mức tăng trưởng xuất khẩu tới trên 31% so với năm 2011, trong đó nhóm hàng điện thoại, linh kiện điện thoại và điện tử đã xuất khẩu được gần 21 tỷ USD, tăng gần gấp 2 lần năm 2011. Như vậy, không chỉ có mặt hàng quần áo, giày dép, mà những mặt hàng điện tử, điện thoại di động, thiết bị nghe nhìn… của các thương hiệu toàn cầu “Made in Vietnam” đang ngày càng chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Trong khi đó, thu hút FDI năm 2013 tiếp tục hứa hẹn có những chuyển biến khả quan. Cùng với một số dự án lớn đã tái khởi động cuối năm 2012 và triển khai trong năm 2013, như báo chí Hàn Quốc trích dẫn, Samsung - một trong những tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới dự kiến sẽ đầu tư vào Việt Nam 2,2 tỷ USD từ nay đến năm 2020 để sản xuất khoảng 50% tổng số điện thoại của Hãng trên toàn cầu. Năm 2012, tập đoàn này đã xuất khẩu 12 tỷ USD hàng điện tử “Made in Vietnam”.

Còn Nike - hãng sản xuất quần áo và giày thể thao hàng đầu thế giới vẫn giữ ý định mở rộng đầu tư tại Việt Nam, nơi mà Hãng đã đặt “đại bản doanh” để sản xuất 41% tổng sản lượng giày thể thao (hiện Nike chỉ sản xuất 32% lượng giày thể thao tại Trung Quốc). Còn đối với Intel - hãng sản xuất thiết bị máy tính số 1 thế giới, theo TS. Patrick Dixon, cùng với việc Samsung, Canon, Siemens… mở rộng đầu tư tại Việt Nam, việc Intel sản xuất 1 tỷ con chip/năm tại Việt Nam là một trong những minh chứng cho thấy, Việt Nam đang nổi lên là một đối thủ “nặng ký” thay thế Trung Quốc để trở thành công xưởng thế giới.

“Những quốc gia được nhà đầu tư đánh giá cao phụ thuộc vào sự ổn định kinh tế và chính trị, hiệu lực của luật pháp, mức thuế, sự khuyến khích của chính phủ đối với nhà đầu tư... Nhiều yếu tố trong số này của Việt Nam được nhà đầu tư đánh giá khá cao”, TS. Patrick Dixon khẳng định cho dự báo của mình về việc Việt Nam sẽ trở thành công xưởng của thế giới trong tương lai gần.

(Nguồn: Báo Đầu tư)

 
Tăng khả năng hấp thụ của dòng vốn FDI PDF. In Email
Thứ tư, 20 Tháng 2 2013 10:35
Việt Nam đã có hơn 25 năm thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong 25 năm qua, kể từ khi hoạt động thu hút FDI được chính thức hóa qua Luật Đầu tư nước ngoài, ban  hành ngày 29/12/1987, FDI được đánh giá là nguồn vốn bổ sung quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. FDI cũng đóng góp không nhỏ vào việc tạo công ăn việc làm, tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực…

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, FDI sẽ đóng góp được nhiều hơn thế nếu chúng ta biết tận dụng lợi thế của mình vào việc đẩy nhanh hiệu quả giải ngân và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI.

Giải ngân FDI không đạt 50% tổng vốn đăng ký

Theo Bộ trưởng Bộ Kế oạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, kết quả giải ngân FDI chính là thước đo hiệu quả thu hút thực tế của dòng vốn FDI. Tuy nhiên, những năm qua, dòng vốn FDI giải ngân của Việt Nam vẫn thấp, chưa tương xứng với kết quả vốn đăng ký và nhu cầu của nền kinh tế.

Cụ thể, thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến nay Việt Nam đã thu hút được 14.263 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 208,6 tỷ USD. Trong đó, vốn thực hiện chỉ đạt trên 97,63 tỷ USD, chiếm 47,2% vốn đăng ký. Tức là còn 52,8% tổng vốn FDI đăng ký chưa được giải ngân.

Cụ thể, năm 2006, FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 12 tỷ USD thì vốn giải ngân chỉ dừng lại ở con số 4,1 tỷ USD, bằng 34% tổng vốn đăng ký; năm 2007, vốn đăng ký đạt 21,34 tỷ USD thì vốn đăng ký chỉ đạt 8,03 tỷ USD, bằng 37,5% tổng vốn đăng ký; năm 2008, vốn đăng ký đạt 64 tỷ USD thì vốn giải ngân cũng chỉ đạt 11,5 tỷ USD, đạt 17,9%; năm 2009, vốn đăng ký là 23,1 tỷ USD thì vốn giải ngân cũng chỉ đạt 10 tỷ USD, đạt 43,2%; năm 2010 vốn đăng ký đạt 18,6 tỷ thì giải ngân là 11,5 tỷ, đạt 61,8%; năm 2011 vốn đăng ký 14,7 tỷ thì giải ngân vẫn chỉ 11 tỷ, đạt 74,8% và 2012 dự kiến vốn giải ngân đạt 13 tỷ USD thì vốn giải ngân vẫn chỉ đạt 10,5 tỷ USD, bằng 80,7% tổng vốn đăng ký.

Điều đó cho thấy, mặc dù kết quả giải ngân những năm gần đây đã được cải thiện hơn so với trước, khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn giải ngân từ năm 2010 đến nay đã ngắn lại, nhưng con số giải ngân cao nhất vẫn chỉ dừng lại ở 11,5 tỷ USD. Phải chăng đây là nguyên nhân làm cho hơn ½ số vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ nằm trên “giấy tờ”?.

Thử làm một phép so sánh đơn giản, chỉ với 47,2% tổng vốn đăng ký FDI được giải ngân mà khu vực FDI đã tạo ra 2,1 triệu chỗ làm trực tiếp và 3-4 triệu chỗ làm gián tiếp; khu vực FDI cũng đóng góp 19% vào tăng trưởng GDP… vậy mới thấy con số hơn 50% vốn FDI đăng ký của nhà đầu tư nước ngoài chưa được giải ngân kia là một sự lãng phí vô cùng lớn về nguồn vốn đối với Việt Nam trong điều kiện đang “khát” vốn cho phát triển hiện nay.

Đồng thời, chậm trễ giải ngân FDI cũng làm giảm sức hấp dẫn môi trường đầu tư tại Việt Nam, làm cho nhà đầu tư lo ngại về khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, và có lẽ đây cũng là nguyên nhân làm cho dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây đang giảm dần. Khắc phục tình trạng chậm giải ngân FDI là vấn đề vô cùng cần thiết.

Cần khắc phục chậm giải ngân FDI

Đây là vấn đề vô cùng cần thiết, song để làm được cần chỉ rõ đâu là lý do dẫn đến nguồn vốn FDI chậm được giải ngân.

Theo các chuyên gia, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng giải ngân FDI thấp, tuy nhiên cơ bản vẫn là do cơ sở hạ tầng kém phát triển; thể chế chưa hoàn thiện và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Đây là những điểm nghẽn không mới, nhưng nhiều năm gần đây nó vẫn được nói đến như một nguyên nhân làm cho dòng vốn FDI kém phát huy hết hiệu quả.

Nói về những vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho rằng: Mặc dù đã được đầu tư nhiều trong những năm gần đây, nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam nhìn chung còn yếu kém, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển, hệ thống cơ sở hạ tầng hàng rào khu công nghiệp còn lạc hậu; Hệ thống pháp luật thì mặc dù 25 năm qua đã có sự cải thiện cho phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế, nhưng các văn bản pháp luật về FDI vẫn chưa đồng bộ, thiếu rõ ràng, thậm chí chồng chéo, tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng vào thực tiễn ở các cấp; Nguồn nhân lực ở Việt Nam tuy dồi dào, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, chưa đáp ứng được yêu cầu về lao động của doanh nghiệp FDI, đặc biệt là trong các dự án sử dụng công nghệ cao và hiện đại.

Tăng sức lan tỏa của khu vực FDI

Theo ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam: Cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng, tạo nền móng cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao thương mại, đầu tư. Vì thế, muốn nâng cao hiệu quả và tăng sức hấp thụ của nguồn vốn FDI, Việt Nam cần tăng tốc phát triển cơ sở hạ tầng. Muốn phát triển được cơ sở hạ tầng, Việt Nam cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án cải thiện hạ tầng dưới hình thức hợp tác công tư (PPP) phát triển. Làm được như vậy, không chỉ giúp Việt Nam có thể tận dụng được nguồn vốn tư nhân cho phát triển hạ tầng, mà còn tạo cơ sở thuận lợi để Việt Nam thu hút và sử dụng hiệu quả được nguồn vốn FDI.

Bên cạnh yếu tố cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật cũng là yếu tố vô cùng quan trọng giúp tăng sức hấp dẫn và cạnh tranh của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. Chính sách pháp luật ổn định, nhất quán cũng giúp cho quá trình triển khai dự án của nhà đầu tư diễn ra nhanh hơn, thuận lợi hơn, giúp giảm chi phí và thời gian cho nhà đầu tư - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng đã từng chia sẻ.
Ngoài ra, theo ông Kwon Kyoung Doug - Phó Giám đốc Văn phòng KOTRA Hà Nội: Muốn thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn và nguồn vốn FDI có chất lượng, Chính phủ Việt Nam nên đưa ra những chính sách mang tính dài hạn, ổn định như thế giúp tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư, khiến họ yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam.

Đặc biệt, vấn đề lao động, Việt Nam có gần 90 triệu dân, và hơn ½ trong số đó là số người trong độ tuổi lao động. Các chuyên gia cho rằng, đây là một nguồn “tài nguyên” vô cùng lớn mà không phải quốc gia nào cũng có được. Tuy nhiên, những năm qua Việt Nam lại chưa biết tận dụng lợi thế về lao động của mình vào thu hút, sử dụng nguồn vốn FDI. Bằng chứng là “đến hẹn lại lên”, năm nào cũng vậy vấn đề chất lượng lao động vẫn luôn là chủ đề nóng được bàn thảo tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam hàng năm.

Thẳng thắn thừa nhận những yếu kém của chất lượng lao động Việt Nam, bà Phạm Thị Hải Chuyền - Ủy viên Trung ương Đảng - Bộ trưởng Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội cho rằng: Thời gian tới, một trong những nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam là nâng cao năng lực thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là thu hút đầu tư của các nước phát triển. Để thực hiện điều đó, Việt Nam phải phát huy được những lợi thế sẵn có, trong đó quan trọng nhất là phát huy tiềm năng của thị trường lao động có chất lượng. Đây cũng là yếu tố quyết định, đẩy mạnh phát triển công nghệ và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững.

Cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ; chính sách pháp luật chưa nhất quán và chất lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầu là 3 “điểm nghẽn” làm giảm đi sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam những năm gần đây. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam 2012 (CG 2012), các chuyên gia lại một lần nữa khẳng định đã đến lúc Việt Nam không thể dựa vào lợi thế lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên để thu hút FDI nữa. Vì thế, việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thể chế và phát huy năng lực lao động vào thu hút và sử dụng FDI là điều cần thiết. Nó không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh cho Việt Nam mà còn giúp Việt Nam tận dụng những lợi thế sẵn có của mình. Đây cũng là cách để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu và tăng sức lan tỏa của khu vực FDI.

(Nguồn: VEN)

 
Tháo nghẽn ưu đãi thuế cho dự án đầu tư mở rộng PDF. In Email
Thứ ba, 18 Tháng 12 2012 09:39
(baodautu.vn) Ngay khi thông tin Bộ Tài chính vừa đưa ra  lấy ý kiến công luận về Dự thảo Luật Thuế TNDN sửa đổi, trong đó có điều khoản quan trọng về việc sẽ thực hiện miễn, giảm thuế đối với các hoạt động đầu tư mở rộng, ông Võ Quang Huệ, Tổng giám đốc Công ty Robert Bosch Việt Nam, khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, đã tỏ ra rất hào hứng. “Điều này sẽ giúp thúc đẩy thu hút đầu tư vào các dự án công nghệ cao ở Việt Nam”, ông Huệ nói.

Dễ hiểu vì sao ông Huệ lại vui như vậy, bởi đây là điều mà Robert Bosch đã chờ đợi từ lâu. Công ty này đang có kế hoạch mở rộng nhà máy sản xuất dây đai truyền động dùng trong hộp số ô tô ở Đồng Nai từ 100 triệu EUR vốn đầu tư hiện nay lên 230 triệu EUR vào năm 2015. Hiện Robert Bosch đang nỗ lực kiến nghị các cơ quan chức năng Việt Nam để nhà máy của mình được hưởng ưu đãi như một doanh nghiệp công nghệ cao, cũng như được hưởng ưu đãi đối với phần đầu tư mở rộng.

“Hy vọng Luật Thuế TNDN sửa đổi sẽ sớm được Quốc hội thông qua trong năm 2013 để các nhà đầu tư sớm được hưởng lợi”, ông Huệ nhấn mạnh.

Thực tế, không chỉ Robert Bosch, mà rất nhiều nhà đầu tư cũng đang gặp những vướng mắc tương tự, do không còn được hưởng ưu đãi đầu tư đối với phần đầu tư mở rộng, sau khi Luật Thuế TNDN hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2009. Kumho Asiana cũng đang có những kiến nghị được hưởng ưu đãi đối với phần mở rộng của Dự án Sản xuất lốp xe Kumho Tires ở Bình Dương. Còn Samsung Electronics Việt Nam là một ví dụ quá điển hình cho câu chuyện này và Báo Đầu tư đã rất nhiều lần đề cập.

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) vừa qua, cộng đồng các nhà đầu tư một lần nữa lại hối thúc việc phải khôi phục các ưu đãi thuế TNDN đối với phần đầu tư mở rộng mà từ trước năm 2009, các nhà đầu tư đã được hưởng.

“Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phải khôi phục chính sách này và cũng phải đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về mở rộng đầu tư theo chế độ hiện hành”, ông Preben Hjortlund, Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham) nói.

Không chỉ cộng đồng nhà đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã nhiều lần lên tiếng về những bất cập trong cơ chế ưu đãi đầu tư với các dự án đầu tư mở rộng. Theo quan điểm của Bộ, các dự án mở rộng thường là các dự án có tình hình sản xuất - kinh doanh hiệu quả, nên doanh nghiệp mới có nhu cầu mở rộng; hơn nữa, khi chuyển sang giai đoạn này, các dự án đã bước sang giai đoạn đầu tư có chiều sâu, thể hiện ý định làm ăn lâu dài của nhà đầu tư tại Việt Nam, do vậy, cần được tạo điều kiện thuận lợi, trong đó có thể khuyến khích và áp dụng ưu đãi đầu tư...

Đáng mừng là, quy định trên đã được Bộ Tài chính đưa vào Dự thảo Luật Thuế TNDN sửa đổi. Cụ thể, Dự thảo Luật quy định: “Doanh nghiệp đang hoạt động có đầu tư mở rộng lắp đặt dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế TNDN theo quy định của Luật được miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mang lại. Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại khoản này bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập mới cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp”.

“Xét từ giác độ lý luận và thực tiễn, việc áp dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp đang hoạt động là phù hợp, nếu hoạt động mở rộng quy mô đầu tư đó vẫn được thực hiện ở các ngành và lĩnh vực đang được Nhà nước khuyến khích đầu tư. Xét về mặt lợi ích kinh tế - xã hội tổng thể, ưu đãi đối với đầu tư mở rộng trong nhiều trường hợp còn hiệu quả hơn so với việc thành lập dự án mới”, đại diện Bộ Tài chính bày tỏ quan điểm và cho biết, việc ưu đãi đầu tư mở rộng này sẽ không được áp dụng đối với hoạt động mở rộng bằng cách nhận sáp nhập, mua lại doanh nghiệp.

Dù mới chỉ là đề xuất, phải qua nhiều lần thảo luận và còn chờ Quốc hội thông qua, song ít nhiều, thông tin này đã nhận được sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Những thay đổi này được cho là sẽ tác động tích cực tới việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Trong khi đó, ở chiều ngược lại, Bộ Tài chính tính toán, nếu áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với dự án đầu tư mở rộng trong điều kiện áp dụng thuế suất phổ thông là 23%, thì dự kiến số thu ngân sách năm 2014 sẽ giảm thêm khoảng 2.081 tỷ đồng.

Nguyên Đức

 

 
Vỡ mộng FDI cảng biển nước sâu phía Nam PDF. In Email
Thứ ba, 18 Tháng 12 2012 09:39
(baodautu.vn) Để cứu các cảng biển nước sâu FDI ở phía Nam đang bị thua lỗ, đại diện một  số hãng vận tải biển và điều hành cảng biển vừa đề nghị

Chính phủ tạm hoãn mở cảng ODA Cái Mép - Thị Vải. Đây là công trình có tổng mức đầu tư lên đến 13.900 tỷ đồng và đã hoàn thành tới 90% công việc.

Kiến nghị gây sốc này được Tiểu nhóm công tác cảng biển và một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đưa ra tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2012, nhằm giải quyết vấn nạn dư thừa năng lực cầu bến, kho bãi container tại Nhóm cảng biển số 5, bao gồm khu vực TP.HCM và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Cần nói thêm rằng, kiến nghị trên chỉ là giải pháp cấp bách để giải quyết tình thế, về mặt lâu dài, Tiểu nhóm công tác cảng biển đưa ra đề nghị “ngừng ngay lập tức việc cấp phép mới cho tất cả các dự án cảng container trong khu vực nội đô TP.HCM”.

“Nếu không có chính sách, cơ chế hợp lý, thì tình hình tài chính của ngành cảng biển container tại phía Nam sẽ phải gánh chịu nhiều hậu quả trong thời gian tới”, ông Peter Smidt Nielsen, Tổng giám đốc Hãng tàu Maersk Việt Nam, đại diện Nhóm đề xuất.

Mặc dù chưa có phản ứng chính thức từ Bộ Giao thông - Vận tải, cơ quan quản lý nhà nước và cũng là chủ đầu tư Dự án Phát triển cảng quốc tế Cái Mép - Thị Vải có năng lực đón nhận tàu có trọng tải tới 100.000 DWT, nhưng rõ ràng, tình trạng phát triển theo kiểu tự phát, thiếu bền vững của các cảng biển Việt Nam là rất đáng báo động.

Theo ông Bùi Thiên Thu, Phó cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, với chi phí gần 500 triệu USD, được đầu tư bằng nguồn vốn vay ODA, cảng ODA Cái Mép - Thị Vải với khối lượng công việc đã hoàn thành như vậy, nếu phải đắp chiếu chờ đến khi thị trường ổn định trở lại và cần nguồn cung bổ sung như đề xuất, sẽ gây ra lãng phí rất lớn. “Bộ Giao thông - Vận tải vẫn đang chỉ đạo Cục Hàng hải Việt Nam tiến hành đấu thầu cho thuê cảng biển dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2013”, ông Thu cho biết.

Tuy nhiên, với năng lực thông qua gần 1 triệu TEU và 2 triệu tấn hàng rời/năm, việc đưa vào khai thác cảng ODA Cái Mép - Thị Vải từ tháng 6/2013 như kế hoạch, sẽ đồng nghĩa với việc làm trầm trọng thêm tình trạng thừa cảng, thiếu hàng ở các cảng nước sâu phía Nam.

Thống kê của Hiệp hội Cảng biển Việt Nam cho thấy, công suất tại Nhóm cảng biển số 5 đã cao gấp 2 lần quy mô thị trường, trong khi nhiều cảng mới vẫn đang được xây dựng. Đáng báo động là, sản lượng container thông qua các cảng Cái Mép - Thị Vải năm 2012 chỉ đạt thấp hơn 20% công suất. Trong khi đó, lượng hàng tập trung về khu vực này đang có chiều hướng suy giảm, nên việc xảy ra tình trạng cạnh tranh về giá để giành tàu giữa các cảng đang và sẽ diễn ra hết sức căng thẳng.

Đây là lý do chính khiến hầu hết các cảng container liên doanh được đầu tư hiện đại tại khu vực Cái Mép - Thị có tổng mức đầu tư lên tới 740 triệu USD, trong đó các đối tác Việt Nam là Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và Cảng Sài Gòn nắm 51% vốn điều lệ đều thua lỗ rất nặng (cảng ít thì lỗ 6 - 7 triệu USD, cảng nhiều lỗ 20 - 30 triệu USD).

“Nhiều đơn vị vận hành bến bãi đang đứng bên bờ vực phá sản và vì Chính phủ là cổ đông chính trong những liên doanh này, nên rủi ro đối với ngân sách quốc gia là đáng kể”, đại diện Tiểu nhóm gây sức ép.

Ở một khía cạnh khác, ông  Ngô Minh Tuấn, Tổng giám đốc Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn lo ngại, với tình trạng thua lỗ trên, cộng với khả năng tài chính eo hẹp của các doanh nghiệp Việt Nam, nguy cơ mất cảng liên doanh vào tay các đối tác nước ngoài và để họ chi phối thị trường kinh doanh dịch vụ cảng biển Việt Nam là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Ngoài lý do thị trường vận tải biển đang trong giai đoạn suy thoái, tình trạng dư thừa trầm trọng công suất ở Nhóm cảng biển số 5 còn bắt nguồn từ sự phối hợp giữa Bộ Giao thông - Vận tải, cơ quan quản lý quy hoạch và các địa phương, nơi thực hiện cấp đất và cấp phép đầu tư các dự án còn hạn chế. Theo đó, việc có quá nhiều giấy phép đầu tư cảng được cấp, mà không quan tâm đến một lượng lớn công suất cảng được đầu tư và đưa vào vận hành trong một thời gian quá ngắn, đã làm “biến dạng” quy hoạch nhóm cảng biển quan trọng này.

Theo ông Hồ Kim Lân, Tổng thư ký Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, sau xi măng, thép, “lạm phát” cảng biển nước sâu tiếp tục là những “trái đắng”, khiến chúng ta “nuốt thì khó mà nhè ra, có lẽ còn khó khăn hơn”!

Câu hỏi được đặt ra là, vì sao khi tiến hành cấp phép cho các liên doanh xây dựng cảng biển, các cơ quan chịu trách nhiệm cấp phép lại không thể hình dung ra hệ quả của nó?

Anh Minh

 
Việt Nam sẽ là công xưởng mới của doanh nghiệp Nhật PDF. In Email
Thứ ba, 18 Tháng 12 2012 09:38
(baodautu.vn) Việt Nam có nhiều lợi thế thu hút đầu tư từ Nhật Bản khi đã có những dấu hiệu rõ ràng về việc Trung Quốc  sẽ không còn là điểm đến yêu thích của DN Nhật Bản, trong khi các đối thủ cạnh tranh với Việt Nam như Indonesia và Ấn Độ thua kém Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư Nhật Bản. Mặc dù vậy, Việt Nam cần nghiêm túc cải cách thủ tục hành chính để củng cố vị trí ưu tiên trong mắt nhà đầu tư.

Việc Nhật Bản độc chiếm ngôi đầu trên bảng xếp hạng các nguồn FDI vào Việt Nam 11 tháng đầu năm 2012, với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 5,051 tỷ USD, chiếm đến 41,5% tổng vốn FDI vào Việt Nam, trong khi Singapore, nhà đầu tư đứng thứ 2 trên bảng xếp hạng (chỉ chiếm 12,8% tổng vốn, với giá trị tuyệt đối 1,554 tỷ USD) cho thấy phần nào tính hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư Nhật Bản.

Theo Công ty TNHH Hasu Việt Nam (quận 1, TP.HCM), chuyên về xúc tiến đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam, Việt Nam là điểm đến đầu tư được các nhà đầu tư Nhật đánh giá rất cao, có thể nói là điểm đến “phù hợp nhất” cho các DN sản xuất Nhật Bản. Với sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư của Nhật Bản ra khỏi Trung Quốc, Việt Nam sẽ dễ dàng chiếm lĩnh được dòng vốn này, nếu cải thiện được vấn đề thủ tục hành chính.

Ông Yasuzumi Hirotaka, Giám đốc Văn phòng TP.HCM (Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản - JETRO) cũng thừa nhận có sự dịch chuyển rất lớn làn sóng đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam. “Việt Nam có được những yếu tố cạnh tranh khác khi nhà đầu tư Nhật Bản luôn thận trọng trong các quyết định. Các công ty Nhật Bản sẽ theo dõi tình hình và có đánh giá về những rủi ro ở các nước trước khi ra các quyết định. Có thể có vài công ty sẽ tìm cách phân tán rủi ro và do đó, họ sẽ chọn Việt Nam là địa điểm đầu tư mới, hoặc mở rộng sản xuất sang Việt Nam”, ông Hirotaka cho biết.

Thừa nhận việc nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá cao lực lượng lao động Việt Nam, nhưng ông Tao Tanaka, Giám đốc Công ty NSK (Khu công nghiệp Long Hậu) khuyến cáo, thủ tục hành chính đang làm giảm sức cạnh tranh của Việt Nam. “Theo tính toán ban đầu, việc đầu tư sản xuất tại Việt Nam sẽ giúp NSK giảm 30% chi phí sản xuất, nhưng thực tế, con số này chỉ 5 - 10%, do vướng mắc về thủ tục hành chính làm tăng chi phí”, ông Tanaka nói.

Hải Long - Đình Bắc

 
Công bố top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam PDF. In Email
Thứ tư, 12 Tháng 12 2012 15:15
Ngày 11/12/2012, Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) đã công  bố bảng xếp hạng VNR500 – TOP 500 doanh nghiệp (DN) lớn nhất 2012. Các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn nằm trong top 10 DN lớn nhất của VNR 500 năm 2012. Tuy nhiên, Bảng xếp hạng năm nay có thêm nhiều bất ngờ mới.

VNPT và các doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục khẳng định vị thế

Theo bảng xếp hàng VNR500 – 500 DN lớn nhất Việt Nam 2012, top 10 DN hàng đầu thuộc về:

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Công ty TNHH Samsung Electrics Việt Nam, Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam.

Đối với Bảng xếp hạng VNR500 dành cho khối DN tư nhân trong nước, những “ông lớn” vẫn là các tên tuổi quen thuộc như Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji, Tập đoàn FPT hay Ngân hàng TMCP Á Châu.

Cụ thể, đứng đầu bảng thứ hạng VNR500 – 500 DN tư nhân lớn nhất Việt Nam 2012 gồm: Công ty CP Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI, Ngân hàng TMCP Á Châu, Công ty CP FPT, Công ty CP Sữa Việt Nam, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín, Ngân hàng TMCP NHK Việt Nam, Công ty CP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận, Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.

Cũng theo kết quả từ Bảng xếp hạng, các DN tư nhân tiếp tục đà gia tăng mạnh mẽ, tuy nhiên các DN nhà nước vẫn đang có sự hiện diện chi phối.

Số DN tư nhân xuất hiện trong bảng top 500 DN lớn nhất Việt Nam tăng dần đều qua 6 năm xếp hạng, thể hiện ở tổng số DN trong bảng VNR đang giảm dần. Xuất phát từ năm 2007, khi mà chỉ có 103 DN tư nhân nằm trong Bảng VNR 500, tới năm 2012, con số này đã là 225, tăng hơn 2 lần.

Tuy nhiên, cho dù có số lượng DN giảm dần, khối DN nhà nước vẫn chiếm tới hơn 63% trong tổng số doanh thu của các DN thuộc Bảng VNR500 năm 2012, tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng của nền kinh tế.

Bắc Ninh ghi dấu ấn đột phá

Về cơ cấu địa phương, Bắc Ninh đã ghi dấu ấn đột phá trong Bảng xếp hạng VNR500. Điểm đặc biệt gây ấn tượng trong Bảng xếp hạng năm nay là việc xuất hiện của Bắc Ninh trong Top 5 địa phương có các DN VNR500 xét về tiêu chí tổng doanh thu, trong đó có sự đóng góp đến từ nhóm DN FDI.

Kết quả này chủ yếu nhờ đóng góp của Công ty THHH Samsung Electronics Việt Nam, là công ty nhận được nhiều ưu đãi của Chính phủ Việt Nam, cùng với chiến lược đầu tư quy mô lớn. Doanh thu xuất khẩu của Samsung đã góp phần lớn giúp Samsung lần đầu tiên lọt vào Top 10 của bảng VNR500.

TP. Hà Nội và TP.HCM, 2 trung tâm kinh tế - văn hóa lớn nhất cả nước vẫn luôn là những địa phương dẫn đầu về số DN lớn từ quy mô, doanh thu tới lợi nhuận.

Với hơn 57% số DN VNR500 năm 2012 nằm trên địa bàn Hà Nội và TP.HCM, tổng doanh thu đạt được trong năm 2011 chiếm lần lượt 46,5% và 27,7% trong tổng doanh thu của VNR500, một lần nữa, hai thành phố lớn lại vững vàng chốt tại vị trí đầu tiên xét theo địa phương của Bảng xếp hạng VNR500.
DN VNR 500 bi quan về triển vọng kinh tế 2013

Theo Vietnam Report, có tới 55% số DN cho rằng nền kinh tế sẽ không cải thiện nhiều trong năm 2013. Số DN cho rằng tình hình kinh doanh trong năm 2013 sẽ xấu hơn năm 2012 nhiều hơn số DN tin vào điều ngược lại.

Đa số các DN đánh giá nền kinh tế sẽ không thể phục hồi trong năm 2013. Tới hai phần ba số DN được hỏi tin rằng nền kinh tế sẽ không phục hồi được trong năm 2013. Chỉ có 33% cho rằng nền kinh tế sẽ hồi phục trong sáu tháng cuối năm 2013 trong khi chỉ 1% tin rằng nền kinh tế sẽ phục hồi 6 tháng tới. Niềm tin rằng nền kinh tế sẽ phục hồi trong năm 2013 đã giảm đi so với thời điểm tháng 8 khi mà có đến 60% đại diện các DN được điều tra cho rằng nền kinh tế sẽ phục hồi trong năm 2013 hoặc sớm hơn.

Trong bối cảnh khó khăn nền kinh tế, các doanh nghiệp lớn VNR500 sẽ đương đầu với nhiều thử thách trong năm 2013, nhưng đó cũng chính là các cơ hội để các DN tiến hành tái cơ cấu, nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng cho một chu kỳ tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Đây là năm thứ 6 liên tiếp, Bảng xếp hạng VNR500 được chính thức công bố để ghi nhận và tôn vinh những thành quả mà cộng đồng DN Việt Nam đã đạt được trong năm 2011.

Bảng xếp hạng VNR500 là kết quả nghiên cứu từ Vietnam Report, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc khoa học, độc lập và tuân theo chuẩn các chuẩn mực quốc tế. Bảng xếp hạng là sự ghi nhận cũng như đánh giá khách quan kết quả hoạt động kinh doanh mà DN Việt Nam đã đạt được trong mỗi một năm tài khóa. Được dựa trên phương pháp luận của mô hình Fortune500 của Hoa Kỳ, Bảng xếp hạng VNR500 đánh giá thứ hạng của DN dựa trên tiêu chí chính là doanh thu. Đồng thời, các tiêu chí như lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng, lao động và tài sản cũng được sử dụng để so sánh hoạt động của các DN.

Tiêu chí lựa chọn các DN tư nhân được Vietnam Report sử dụng là các DN có vốn sở hữu tư nhân lớn hơn hoặc bằng 51%. Để đủ tiêu chuẩn lựa chọn xem xét xếp hạng trong Bảng xếp hạng DN mọi thành phần, doanh thu tối thiểu của DN phải trên 1.400 tỷ đồng và trong Bảng xếp hạng DN tư nhân, doanh thu tối thiểu của DN phải đạt trên 660 tỷ đồng.

(Nguồn: VnMedia)

 
Đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước PDF. In Email
Thứ hai, 10 Tháng 12 2012 09:12
Chủ tịch UBND tỉnh vừa quyết định ban hành quy chế đảm bảo an toàn,  an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh nhằm bảo vệ toàn diện, ngăn chặn các mối đe dọa, giảm thiểu các rủi ro do môi trường bị gián đoạn, các cuộc tấn công có mục đích làm mất an toàn thông tin; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước trên môi trường mạng.

Quy chế được áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh bao gồm các sở ngành trực thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố (cơ quan QLNN); công chức, viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan QLNN; các cá nhân, tổ chức có liên quan khi tham gia vận hành, khai thác, sử dụng hệ thống công nghệ thông tin tại các cơ quan QLNN.

Quy chế quy định các nội dung của công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ quan QLNN thuộc tỉnh, bao gồm: xây dựng các quy định về bảo đảm an toàn, an ninh hệ thống thông tin; trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan thực hiện bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong cơ quan, đơn vị. Cụ thể cho từng nhiệm vụ như tổ chức quản lý vận hành; quản lý tài sản CNTT; đảm bảo an toàn thông tin từ nguồn nhân lực; bảo đảm an toàn vật lý và môi trường; quản lý điều khiến truy xuất; tiếp nhận, phát triển và bảo trì hệ thống thông tin; quản lý truyền thông và hoạt động; quản lý sự cố an ninh thông tin; quản lý bảo đảm hoạt động liên tục hệ thống thông tin,… cũng như trách nhiệm của các cơ quan QLNN, Sở Thông tin và Truyền thông, Công an tỉnh và cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan QLNN trong việc đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin.

Lam Uyên (Cổng TTĐT Q.Ngãi)

 

 
Bắt buộc sử dụng vật liệu xây không nung PDF. In Email
Thứ năm, 06 Tháng 12 2012 09:11
Các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà  nước tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% các vật liệu xây không nung kể từ ngày 15/1/2013; tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% và sau năm 2015 phải sử dụng 100%.

Vật liệu xây không nung bao gồm: gạch xi măng - cốt liệu, vật liệu nhẹ, tấm tường thạch cao, tấm 3D và các loại gạch khác.

Ngoài ra, công trình từ 9 tầng trở lên không phân biệt nguồn vốn phải sử dụng tối thiểu 30% và sau năm 2015 phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung loại nhẹ trong tổng số vật liệu xây.

Bên cạnh đó, các công trình xây dựng không phân biệt nguồn vốn, khu vực đô thị, số tầng cũng được khuyến khích sử dụng các loại vật liệu trên.

Đó là nội dung được quy định trong Thông tư 09/2012/TT-BXD, có hiệu lực từ ngày 15/01/2013.

Ms. Thu Thủy (TVPL)

 
Tăng mức lương tối thiểu vùng từ 1/1/2013 PDF. In Email
Thứ năm, 06 Tháng 12 2012 08:01
Từ ngày 1/1/2013 sẽ áp dụng mức lương tối thiểu vùng từ 1.650.000 đến  2.350.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 103/2012/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động, thay thế Nghị định 70/2011/NĐ- CP ngày 22/8/2011.

Đối tượng áp dụng bao gồm doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động; Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

Mức lương tối thiểu sẽ bắt đầu áp dụng từ ngày 1/1/2013 tới đây chia theo 4 vùng I, II, III, IV. Cụ thể như sau:

Vùng

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 1/1/2013 (theo Nghị định 103/2012/NĐ-CP)

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng hiện nay (theo Nghị định 70/2011/NĐ-CP)

I

2.350.000  đồng/tháng

2.000.000 đồng/tháng

II

2.100.000  đồng/tháng

1.780.000 đồng/tháng

III

1.800.000  đồng/tháng

1.550.000 đồng/tháng

IV

1.650.000  đồng/tháng

1.400.000 đồng/tháng

 

Như vậy, mức lương tối thiểu vùng mới cao hơn mức lương hiện nay khoảng từ 250.000 - 350.000 đồng/tháng.

Nghị định cũng nêu rõ, mức lương tối thiểu vùng quy định như trên cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận tiền lương bảo đảm mức tiền lương tính theo tháng trả cho người lao động chưa qua đào tạo làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ số ngày làm việc tiêu chuẩn trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.

Đối với doanh nghiệp đã xây dựng và ban hành thang lương, bảng lương thì căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng để điều chỉnh các mức lương trong thang lương, bảng lương, phụ cấp lương, các mức lương trong hợp đồng lao động cho phù hợp với các thỏa thuận và quy định của pháp luật lao động.

Đối với doanh nghiệp chưa xây dựng thang lương, bảng lương thì căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng để tính các mức lương khi xây dựng thang lương, bảng lương, phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

Cũng theo Nghị định, khuyến khích các doanh nghiệp trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng quy định.

Nghị định 103/2012/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20/1/2013. Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này được áp dụng từ ngày 1/1/2013.

Theo Thùy Trang/Chinhphu.vn

 
Các bài viết khác...
  • Đối thoại để cùng hành động
  • Lãi suất của Việt Nam gấp 2 - 3 lần các nước
  • Sản xuất vẫn hút vốn FDI
  • Việt Nam sẽ trở thành công xưởng của thế giới
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 của 23

Thư ngỏ

Kính gửi: Quý độc giả trong và ngoài nước Phấn đấu đi lên từ nhân tố mới, cơ hội mới Năm 2012 kết thúc... Chi tiết...

Dự án NM Thép Guang Lian

1. Tên dự án: Nhà máy thép Guang Lian Dung Quất. 2. Chủ đầu tư: Công ty TNHH Guang Lian Steel (Việt Nam). Bao gồm: Tập đoàn... Chi tiết...

Diễn Đàn Thương Hiệu Biển

Nội dung một số bài bài tham luận được đăng tải tại đây chưa phải là nội dung cuối cùng. Các bài viết sẽ tiếp... Chi tiết...

Thủ tục hành chính

Ban quản lý KKT Dung Quất công bố 119 bộ thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: ĐẦU TƯ, TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG,... Chi tiết...

Sự kiện

Hình ảnh
Hạ thủy tàu chở dầu thô lớn nhất Việt Nam
Hình ảnh
Chính thức bàn giao Nhà máy sản xuất Polypropylene...
Xem tất cả...

Thư viện ảnh

Quảng cáo

Trang thông tin điện tử Ban Quản Lý Khu Kinh tế Dung Quất
Giấy phép số: 140/GP-BC, cấp ngày:26/05/2006 của Cục báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cơ quan chủ quản: Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất - Email: kktdq@dungquat.com.vn
Tổng Biên tập: Lê Văn Dũng - Phó Trưởng Ban quản lý KKT Dung Quất
Khu đô thị mới Vạn Tường - huyện Bình Sơn - tỉnh Quảng Ngãi; Tel: 055.3609317/3640442; Fax: 055.3645828